Một Nơi Cho Cuối Đời
(ảnh minh họa)
Truyện ngắn Phan Hạnh
Ông ngồi ngoài trời nắng, đắp hờ một cái chăn mỏng, tư lự. Mười
ngón tay ông thò ra, gầy guộc như mười vật lạ muốn cùng ông phơi nắng.
Ông hy vọng mặt trời hôm nay sẽ ở lại với ông lâu hơn một chút. Ông nói
thầm và biết chắc chắn là mặt trời sẽ còn ở chơi với ông ít ra cho đến
bốn giờ chiều. Đến chừng đó, nó sẽ bị bóng cây dưới sân thượng che
khuất.
Ông nhìn quanh khu nhà, rồi nghĩ, - một ý nghĩ chẳng giúp
ích được gì - “Thật là ác! Xây nhà theo cái kiểu gì mà cái nhà của người
này đổ bóng che lên cái nhà của người kia. Ủa, mà cuộc sống của con
người cũng y như vậy thôi, đời của người này đè lên đời người khác.”
Toàn
bộ bờ biển thoai thoải này từng là một vùng thiên nhiên hoang dã chưa
khai thác với
những cây to lớn xum xuê cành lá.
Những bụi cây xương rồng với cánh hoa lớn và những cây lưỡi rắn thân dầy
như vòi voi mang vẻ lạc lõng rầu rĩ giữa khu nhà kiến trúc chen chúc.
Sân thượng được o bế kỹ và tỉ mỉ hơn. Vợ ông đã kêu người trồng hoa
phong lữ trong những cái hộp gỗ đặt dọc theo bờ tường. Ông thì chẳng mặn
mà gì với hoa kiểng.
Từ ghế dựa có lót nệm êm, ông dễ dàng vói
bàn tay năm ngón xương xẩu sờ nắn cọng cây hoa phong lữ khô héo vì thiếu
nước tưới. Gió nóng Phan Thiết làm phồng rộp mớ cây kiểng này một cách
thảm hại. Chẳng biết làm gì và hơi bực mình, ông tiện tay ngắt những cái
lá, bông héo và
vứt xuống đất. Không thể vói tay xa hơn để ngắt những cây khác, ông
buông mình nằm xuống, kiệt sức như một chiếc ghe chìm; thân người gầy
mỏng cong vòng của ông ép lên mặt nệm, trông như cánh cung căng sắp bắn
tên. Ông quyết đoán một cách điên khùng với ý nghĩ “Đám hoa phong lữ
này che khuất ánh nắng mặt trời quý báu của tôi đây mà!”
Và, bất
kể khu vườn với đám cây cối làm cảnh mà ông cho là giả tạo và chẳng đẹp
đẽ gì, ông nhất định nằm đây tắm nắng và hưởng những giọt nắng cuối
cùng cho đến khi mặt trời lặn khuất. Ông đã nhắm mắt lại nằm thẳng và
nhìn bằng hố đen sâu thẳm của lớp da mí mắt. Ngay cả ở đây, ở miền duyên
hải Việt Nam ấm áp đầy ánh mặt trời, xa vời, hình ảnh mỏ than đá ở tận
miền
bắc xứ Canada lạnh giá vẫn còn hiển hiện.
Hốc mũi của ông đã
chán ngán cái mùi than đá và cảm giác hai má mình còn rin rít lớp sương
mù trơn nhớt. Mặc dù đã từ giã nghề làm thợ hầm mỏ mười mấy năm nay sau
hai mươi năm đeo đuổi, nhưng ông không thể quên tháng ngày làm lụng vất
vả vì đồng lương hậu hĩ ấy. Đối với ông, dường như mười mấy năm nhàn hạ
vừa qua đi quá nhanh đến mức như ông chỉ mới rời công việc mỏ than tháng
trước. Giờ đây, ông ngồi dưới ánh nắng mặt trời với đôi mắt nhắm
nghiền, nhìn vào chiều sâu như bất tận của hai mươi năm lầm than đó. Lầm
vì đã chọn làm việc ở mỏ than nên bây giờ nằm than thở. Ông nghĩ, có lẽ
bụi than đen sì đã trở thành một con số bách phân nào đó trong máu của
mình, đã gây
ô nhiễm thể chất và tinh thần nên giờ ông mới lâm vào trạng thái trống
rỗng u tối như thế này. Nó làm ông luôn cảm thấy thèm khát không khí
trong lành, gió biển thoáng mát và nhất là ánh nắng mặt trời. Cũng chẳng
đáng trách, vì coi như đời ông đã tàn phế rồi với căn bệnh gọi là hội
chứng mệt mỏi triền miên, mệt mỏi tinh thần lẫn thể xác.
Ông vẫn
nằm đó, tuy đôi mí mắt đóng lại nhưng đôi ngươi vẫn như nhìn thẳng vào
hầm mỏ than hun hút sâu. Trong cõi tối tăm ấy, rõ ràng ông nhìn thấy
những ngày đầu đến Canada. Ông đã háo hức dùng tay không vốc lớp tuyết
đóng băng cho vào miệng. Ông như sống lại kỷ niệm tuổi thơ ở xóm Bàn Cờ
Sài Gòn vào đầu thập niên 1960. Kỷ niệm tuổi thơ sẽ đẹp một cách trọn
vẹn nếu như ông không
bị lôi vào cuộc chiến khốc liệt, buông súng và bỏ nước ra đi. Từ ngày
đó, trái tim ông không bao giờ yên vui được lâu, những cảm nghĩ về cuộc
binh đao quá khứ lại tràn lên ồ ạt như một đợt xung phong của đại đội.
Nó đã tồn tại như một gánh nặng lương tâm vào mỗi buổi sáng khi ông thức
giấc. Hết mười năm cuộc chiến đến hai mươi năm mỏ than, lại cũng là một
cuộc chiến với tiếng nổ của mìn plastic bộc phá.
Tháng Hai, Phan Thiết quê hương nước mắm trong tâm thức giờ là
khách sạn nhiều sao, sân gôn, sòng bạc, và khu nhà nghỉ sang trọng này.
Mũi Né, đồi cát, ruộng muối... Ông chỉ thấy trước mặt là các màu hoa cà,
màu trắng, màu đỏ nhạt của đám hoa phong lữ lên mạnh mẽ trong bồn chậu
xi măng. Ông nâng tay sờ cằm và cảm thấy râu ria người già mọc ra nhanh
hơn cả hoa cỏ.
Trong cơn mơ màng, nghĩ ngợi ông bỗng nghe tiếng vợ ông léo nhéo;
giọng nói của bà có âm vực cao cỡ như ca sĩ Ngọc Hạ hát bài Dòng Sông
Xanh.
- “Loại này hợp với khí hậu sương mù mát mẻ Đà Lạt lắm đó
anh”. Bà nói chuyện với người bên cạnh nhưng lại đang quay loa miệng về
phía ông. Người khách đàn ông khen nịnh: “Hoa kiểng của chị trồng thứ
nào cũng đẹp quá.”
Ông lẩm bẩm: “Lại cái thằng nhà văn hay nhà báo gì đó đến quấy rầy nữa rồi!”
Khi
mở mắt ra, ông thấy mặt trời đã bắt đầu chiếu tia nắng qua ngọn cây,
bóng xuyên cành lá và như sắp tràn lan xuống phần gốc. “Đừng, khoan đã”,
ông nghĩ. Ông chống khuỷu tay gượng ngồi dậy và quét mắt nhìn bầu trời.
Chắc cũng đã ba giờ rưỡi chiều rồi cũng
nên, chắc chắn vậy, ông nghĩ. Ông gọi trổng không, “Chắc trời cũng sẽ
còn sáng một vài giờ nữa chứ?”
Rồi ông nghe tiếng những viên sỏi
lát lối đi kêu rào rạo đau đớn dưới hai đôi giày: đôi cao gót của vợ
ông và đôi giày chạy bộ của ông khách. “Gớm, hắn đi nện chân sao mà cứ
như lính Đức Quốc Xã diễn hành!”, ông nghĩ thầm.
Bà đã đi đến gần cạnh ông và kêu lên kinh ngạc:
- “Trời đất! Sao anh bứt hoa phong lữ của em?”
Ông đáp tỉnh rụi:
- “Héo thì để làm gì.”
Người khách ngước đầu nheo mắt nhìn trời một lúc xong nói:
- “Mặt trời sắp lặn rồi đấy.”
Ông
thầm nghĩ “Có khác chi đời ta. Hay là hắn nói kháy ta cũng không
chừng.” Ôi, một người bệnh như ông nhìn đâu cũng chỉ toàn điều tiêu
cực.
Ông khách cố tình bước trước tia nắng và đứng dựa lưng vào
tường sân, cái đầu đầy tóc muối tiêu bùm sùm rõ từng sợi dưới ánh sáng
mặt trời, và hắn nói một cách hứng thú:
- “Anh thấy về đây hưởng
nhàn có lý không. Tôi nghĩ giờ này ở Canada, mấy người bạn
của anh đang còn cong lưng xúc tuyết. Không biết anh nghĩ sao chứ tôi
thấy anh về Việt Nam nghỉ hưu thật là một sự chọn lựa tuyệt vời. Thiên
đàng cũng sướng như thế này thôi.”
Ông hẳn nhiên dư biết Tháng
Hai Canada vẫn còn đang trong mùa Đông và bão tuyết có thể xảy ra. Nhưng
ông vẫn nghĩ người khách nói như thế có hơi tàn nhẫn. Cười trên nỗi đau
của người khác là bệnh hoạn. Hắn thích chí là phải. Hắn đang là khách
của vợ chồng ông. Hắn hưởng thụ mọi thứ nơi đây hầu như miễn phí cả vài
tuần nay. Cặp mắt của hắn, cái cười của hắn, cái mũi của hắn đều toát
lên nét thỏa mãn đáng ghét. Mọi thứ được ngụy trang dưới chiêu bài làm
phước giúp người.
Không nén được sự bực bội, ông chua chát cất tiếng:
-
“Tất
nhiên là bạn không thể biết tôi có cảm giác như thế nào. Bạn có đang
đau yếu như tôi đâu mà bạn nói. Bạn làm ơn đừng đứng che ánh nắng mặt
trời của tôi có được không?”
Trong lúc người khách dịch sang chỗ
khác, ông hắng giọng. Lưỡng lự một lúc, ông can đảm bậm môi nuốt bãi đờm
vào cổ họng rồi thẫn thờ buông mình trở lại xuống mặt nệm chiếc ghế
dài.
Người khách dường như chẳng để ý lắm đến thái độ của người
bệnh. Hắn có vẻ đang chú tâm đến chuyện riêng của hắn và nói với nét mặt
tự mãn:
- “Anh Trí này! Lợi thế, - hay đúng hơn là một trong
những lợi thế - của một nhà văn là anh ta có thể bám trụ ở bất cứ nơi
nào mình ưa thích. Và bây giờ tôi đã là một ‘nhà xuất bản’ thành công ở
thành
phố đấy!”
- “Sài Gòn thì bạn gọi là Sài Gòn chứ bảo thành phố
thì biết là thành phố nào. Mà bạn là một nhà xuất bản à? Tôi tưởng bạn
chỉ là một nhà văn viết theo đơn đặt hàng hay phóng viên nhà báo chứ.”
Ông hỏi lại ngay và không cần che giấu vẻ bực mình.
Một lần nữa, qua đôi mắt nhắm nghiền, ông lại như nhìn chằm chằm vào các mỏ than bỏ trống tối tăm sâu thẳm ở Alberta.
Vợ
ông khom lưng nghiêng người bên ghế ông nằm, kiên nhẫn nhặt lên từng
mẩu cánh lá và hoa phong lữ đã bị ông vặt lúc nãy. Bà không nói một lời.
Và khi bà cử động, chiếc giỏ có nắp đậy trên cánh tay bà đong đưa, và
cặp phách bằng gỗ trên chiếc giỏ chạm nhau kêu lách cách.
Bà nói nhỏ giọng:
- “Em chỉ cần cắt tỉa
lại chút ít là mớ cây hoa này sẽ đẹp lại như cũ anh xem.”
Người chồng bệnh nói với vợ, giọng đượm ít cay đắng:
- “Em nhặt chúng để nấu canh đó à? Mà cái gì trong giỏ kêu lách cách vậy?”
Bà chợt nhớ ra và kêu lên:
- “À... hai con cua biển sống! Hồi sáng nầy em đi tản bộ qua xóm lưới thấy cua ngon quá nên mua về cho anh đó.”
Người
khách đàn ông bật cười thành tiếng. Nằm đó, người bệnh có thể nghe cả
tiếng hắn thở hổn hển chen lẫn trong tràng cười. Ông nói với vợ giọng
gắt gỏng:
- “Sao em không luộc nó ngay đi. Để nó sống nhưng nó biết thế nào rồi nó cũng chết.”
Ông tò mò lắng tai nghe tiếng hai con cua cọ quậy rột rẹt trong giỏ. Vợ ông đáp:
- “Để ngày mai anh à. Em
đang kêu người giúp việc đi chợ kiếm mua mayonnaise. Họ nói tới mai mới có.”
Người
bệnh vẫn biết vợ ông lo cho ông, không muốn ông ăn mặn vì huyết áp cao.
Cua luộc chấm mayonnaise đối với bà sẽ ngon và tốt hơn là muối tiêu.
Bỗng ông chua chát hỏi:
- “Tại sao cái ông khách tên gì đó của em không trả lời câu hỏi của anh?”
Ông vẫn còn đang bị ám ảnh với những suy nghĩ về người khách thường đến quấy rầy ấy. Ông nhắc lại:
- “Anh hỏi có đúng ông ta là một nhà xuất bản không.”
Ông
nghĩ hắn chẳng khác gì một con rắn, một tên tội phạm. Hắn đến đây sống
báo đời ông và lại không cho ông sự hả hê được tranh luận với hắn một
trận! Hắn không còn trẻ trung gì với cái đầu tóc muối tiêu đó, nhưng
hắn có sức khỏe tức là hắn hơn ông tất cả: sức chịu đựng và kiên nhẫn
của một kẻ khôn ngoan. Ông khinh miệt, nghĩ hắn có vẻ là một kẻ điếm
đàng. Sau cái cách nói chuyện cười cười ra vẻ lịch sự đó, hắn không giấu
được ông cái cung cách khúm núm nịnh bợ. Hắn đang đứng rất gần chiếc
ghế ông nằm, đến nỗi ông có thể nghe hơi thở của hắn kêu í o. Có lẽ hắn
đang nhìn ông không rời mắt, đang quan sát ông từng lỗ chân lông, từng
sợi tóc để ghi nhận và giữ vào bộ nhớ của hắn.
Lúc ấy người khách mới lên tiếng:
- “Ồ, tôi xin lỗi anh. Tôi nghĩ là tôi nợ anh một lời xin lỗi. Như anh thấy đấy, tôi chưa quen với...”
- “Với cái gì?”, người bệnh sắc bén ngắt lời. Ông nhướng mày mắt mở và nhìn vào mặt
người khách một cách nghi ngờ. Người khách tự xưng là một nhà xuất bản đáp ngay:
- “Tôi chưa quen thấy anh nằm liệt như thế này.”
Người bệnh mỉa mai:
- “Bạn che đậy khéo lắm.”
Nói xong ông đặt hai tay lên lồng ngực lép và tiếp lời:
-
“Tôi đoán ý của bạn muốn ám chỉ một điều gì khác. Có phải bạn muốn nói
tôi sắp chết? Nhìn lưỡi của bạn, tôi biết bạn định nói cái chữ ghê gớm
đó.”
Ông nhắm mắt lại và thở dài sườn sượt. Rõ ràng ông lại ngửi
thấy mùi khói hôi nồng của hầm mỏ than đá thuở xa xưa ở Alberta, nó cứ
bám mãi theo ông chẳng bao giờ chịu tha. Ông nằm co giật trong thứ nắng
xế héo hắt và gọi vợ:
- “Em à! Rót cho anh một ly sâm banh được không? Anh muốn uống
rượu.”
Ông cố ngồi dậy và rồi tuôn lời:
- “Anh nói cho em biết, em khỏi cần phải giấu sự thật về anh.”
Vợ
ông không đáp. Bà chỉ nhanh nhẹn rời sân thượng, bỏ lại hai người đàn
ông với nhau. Người bệnh cười méo mó nói vói theo một cách dứt khoát,
tuôn một hơi dài, chẳng cần biết vợ ông có nghe thấy hay không. Có khi
ông muốn cho người khách nghe cũng không chừng:
- “Đừng có lầm!
Đừng làm bất kỳ sai lầm nào. Quyển sách đời anh chưa hoàn toàn kết thúc ở
đây đâu. Anh vẫn còn đang viết chương cuối đó nghe chưa em. Em chớ có
tự đánh lừa mình.”
Người khách mừng rỡ chộp nói xuôi theo:
-
“Tôi phải tự khen tôi là tôi không lầm. Tôi biết ngay là anh vẫn còn
nhiều chuyện ly kỳ trong cuộc đời để kể
cho tôi viết và xuất bản. Tôi hy vọng sẽ có được cái vinh dự xuất bản
sách hồi ký của anh. Tôi trông cậy vào anh, xin anh biết cho.”
Hắn
vui hẳn lên và nhìn người bệnh một cách rụt rè. Nhưng gương mặt người
bệnh thình lình trở nên xám ngoét như thiếu sinh khí. Mặt trời đã xuống
thấp hơn, ánh nắng chiếu trên khuôn mặt ông đã bị bóng cây che khuất.
Ông nói một cách trống rỗng:
- “Tôi nào biết mặt trời lại xuống nhanh và tắt sớm như thế này.”
Vợ
ông đã quay lại với chai rượu. Bà mở chai điệu nghệ, sành sỏi. Ông nằm
nghiêng người lại để ngắm bà, một phụ nữ lớn con, mạnh mẽ, ngón cái của
bàn tay phải cong cong lưỡi liềm mà linh hoạt một cách đáng ngạc nhiên.
Tài sản của vợ chồng ông phát đạt được như
ngày hôm nay cũng do công của bà. Những nắm tay của bà vững chắc, kiên
trì như một con rắn quấn mồi trên cái cổ chai.
Chẳng biết bà vô
tình hay cố ý mà cái nút chai văng lên một tiếng “bấc” lớn, và trúng
ngay giữa trán ông khách. Chất rượu màu vàng tinh khiết xủi bọt phun vọt
lên. Người bệnh thốt lên hốt hoảng và chìa bàn tay năm ngón khẳng khiu
của ông như muốn đón lấy những giọt rượu:
- “Cho nó chảy lên tay anh nè em! Phí quá! Tưới nó lên người anh đi em!”
Vợ
ông cũng cảm thấy vui lây trước sự trẻ con của chồng. Những giọt rượu
li ti mát lạnh cũng văng lên mặt bà khiến bà cười thích thú. Bà vội rót
rượu ra ba cái ly thủy tinh và rót thật khéo cho rượu khỏi tràn ra
ngoài. Ông ngồi dậy nâng ly và nốc ừng ực. Ông
mừng rỡ, cảm thấy chất rượu trong veo lóng lánh kia như nước suối xuân
tươi mát chảy vào người ông, mang mùa xuân trở lại cho tim ông. Ông hạ
cái ly trống không xuống và chìa ra van xin:
- “Em ơi, rót thêm một ly đầy nữa cho anh được không?”
Vợ
ông làm theo lời. Ông nhìn chất rượu trong với những hạt bong bóng li
ti thi nhau trồi lên miệng ly để rồi tan vỡ. “Tuyệt! Tuyệt!”, ông sung
sướng reo lên và ngước mắt trao cho vợ một cái nhìn bẽn lẽn mà ngọt
ngào. Ông nói:
- “Em à. Em thả hai con cua ra cho chúng bò anh xem được không? Chắc vui lắm.”
- “Anh phải cẩn thận đó nghe chưa. Tuy người ta đã chêm càng cho nó không há ra được nhưng anh vẫn nên cẩn thận đó.”
Bà
nhắc ông mới nhớ lại trò chêm càng cua mà ngày còn nhỏ
ở đồng quê Tiền Giang ông thường làm. Thuở xa xưa đó ông theo cậu út đi
ngoáy hang cua biển. Cậu dùng một cọng mây dài, đầu có móc sắt, thò vào
hang cua dọc theo mé mương để bắt cua. Ông đóng vai đệ tử cho cậu, xách
giỏ, gỡ cua và chêm càng. Ông bẻ phần chót của cái ngoe nhọn của con
cua và chêm vào kẽ lóng trên của càng cua cho nó hết cử động được. Kỷ
niệm khiến ông thích chí:
- “Trời! Chẳng lẽ anh lại sợ một con cua! Đời anh còn ngán sợ gì nữa đâu!”
Vợ
ông đặt ly rượu đang cầm trên tay xuống chiếc bàn thấp và xoay người mở
nắp chiếc giỏ mây. Bà úp ngược giỏ cho hai con cua với bộ giáp xanh
bóng mượt bò ra trên sàn gạch. Hai con vật giương cao đôi mắt như ngó
quanh đôi càng ngoe nguẩy giống như kép hát bội múa song đao
ngày xưa. Ông vói tay cố chạm vào cái mai của nó.
- “Coi chừng anh. Nó kẹp đau lắm đó!”, bà căn dặn chồng.
- “Anh muốn cầm nó lên một chút.”
Ông
dùng hai ngón tay cầm nơi hai khóe ngoe cuối và nhấc nó lên và đặt nó
lên tấm chăn mỏng đắp hờ trên người ông. Nó bò chậm chạp như ông từng bò
trong đường hầm với chiếc đèn pin gắn trên nón an toàn của người thợ
mỏ. Sau đó, ông giơ tay nhẹ nhàng vuốt ve lưng nó và nói với nó rằng đời
nó chẳng dính dáng liên hệ gì đến đời ông, thế mà ông chỉ gặp nó trong
chốc lát mà như mối duyên nhỏ.
Khi ông nâng con cua lên để nhìn
thật gần, nó giương hai càng như thể cũng biết thương hại và đang tìm
cách ôm để an ủi một ông già ốm yếu vì bệnh tật. Ông nghĩ thế, cái ý
tưởng ngây thơ của một đứa bé con. Và rồi ông nghĩ đời ông và đời nó,
chưa biết ai sướng khổ hơn ai. Ít ra nó không phải chịu đựng một nỗi dằn
vặt khổ đau khi đối diện với cái chết như ông. Ngày mai nó bị luộc.
Ngày mai cũng có thể ông lăn ra chết vì kiệt sức.
Ông thở ra một
hơi dài, nhẹ nhàng vuốt đầu nó, rồi đặt nó bên cạnh “đứa bạn” đang dọ
dẫm dưới chân ghế. Ông lại nâng ly sâm banh nhấm nháp và cay đắng nghĩ
“Không có mầy tao cũng chẳng sao.”
Vợ ông vừa nói chuyện với
người khách vừa đưa mắt theo dõi người chồng đau ốm. Người khách cũng
trầm ngâm nhìn vào chiếc ly rượu vơi một lúc lâu rồi mới cười nói:
-
“Anh Trí ạ, xin anh đừng hiểu lầm tôi. Tôi hoàn toàn nhận thức được
thực tế là lâu
lắm trước khi tôi gặp anh, chắc cũng đã có nhiều người khác muốn viết
về cuộc đời anh, một cuộc đời có thể nói là ly kỳ ngoại hạng. Một sĩ
quan tác chiến có những trận đánh lẫy lừng, một nghệ sĩ yêu chuộng cái
đẹp thơ văn, một người tị nạn lưu vong, một người thợ mỏ âm thầm làm
việc dưới lòng đất tối tăm. Anh có tất cả vinh quang, hạnh phúc, tài
sản và sự từng trải; nghỉ hưu lại rất sớm, an nhàn du lịch nhiều nơi
trên thế giới, giao thiệp rộng, nhiều bạn bè. Và anh cũng muốn có một
tác phẩm để lại cho đời. Tôi chỉ muốn giúp anh đạt được ước vọng sau
cùng. Vì thế tôi đã phỏng vấn chị nhà liên tiếp trong mấy tuần qua. Tôi
cố gắng ghi chép mọi dữ kiện một cách cẩn thận và chính xác. Tôi cần làm
việc gấp
rút vì không ai có thể biết điều gì có thể xảy ra trong ngày mai.”
Người
bệnh vô cùng hoang mang, ông nhìn mặt vợ và mặt người khách, mà chẳng
hiểu tại sao ông chẳng thể có cảm tình với ông ta được. Ông cũng không
hiểu nổi vì sao mình lại rơi vào tình trạng trầm cảm bất an tệ hại như
thế này. Ông hoang mang lo sợ tất cả mọi thứ ông có đang vuột khỏi tầm
tay. Ông sẽ mất tất cả vì ông đã mất sức khoẻ, kế đến sẽ là mạng sống.
Ông cảm thấy chán nản, bất an và ngờ vực. “Nếu họ mắng mình, mình sẽ
khóc.” Ông cảm giác môi dưới của mình đang run rẩy vì cảm xúc mạnh.
“Mắng
mình, - ông đột ngột nghĩ trong sự phẫn nộ - mắng một ông già đau yếu
với bộ râu lâu rồi không cạo?” Ông đưa tay run run xoa cằm để xác
nhận mình đúng là ông già bệnh tật đầy râu mà họ mắng, dù có ai mắng
ông đâu. Ông hậm hực nhíu mắt, cau mày ném về phía hai người một tia
nhìn bực tức và đầy ác cảm.
- Bạn chưa trả lời câu hỏi của tôi!”, ông nói một cách hung hăng giận dữ. “Bạn chưa trả lời. Bạn có biết không!”
Cánh
tay buông thõng bên thành ghế của ông quơ quơ đụng phải cái càng đã sút
chêm và đang há ra của con cua. Nó kẹp ngón tay trỏ của ông một phát
đau điếng. “Úi cha! Nó kẹp đau quá!” Ông hét lên và giật mạnh tay. Con
cua rơi cộp xuống sàn gạch. Ông khiếp đảm khi thấy cái càng cua vẫn còn
toòng teng trên tay ông. Ngón tay trỏ chảy máu ròng ròng. Ông nhìn ngón
tay trừng trừng và mếu máo:
- “Tôi không muốn chết! Tôi không muốn chết!”
Ông khóc nức nở như một đứa trẻ con. Bà hốt hoảng chạy đến bên
chồng, rút khăn tay trắng chậm máu cho chồng và ôm vai ông vỗ về:
- “Có em lo cho anh đây anh ơi. Anh đừng sợ nữa.”
Bà
gỡ cái càng cua gẫy ra khỏi ngón tay ông và lấy khăn tay cột tạm ngón
tay rách da của chồng, xong bà chạy nhanh vào nhà lấy hộp cứu thương. Bà
thoăn thoắt trở ra rửa vết thương và băng bó cho ông.
Người
khách lặng lẽ rút từ trong túi quyển sổ dầy cộm và ghi ghi chép chép.
Đám hoa phong lữ trên sân thượng buồn bã co rúm lúc chiều tà. Mặt trời
lặn dần trên đồi cát nơi phía xa.
Nắng tắt, người bệnh nằm trên chiếc ghế ngoẹo đầu nhắm mắt và không còn thiết tha đến bất cứ điều gì nữa.
Phan Hạnh NTH Toronto.