Thứ Ba, 4 tháng 6, 2013

VỊ ĐẮNG CÀ PHÊ

VỊ ĐẮNG CÀ PHÊ

Cà phê đen những giọt sầu,
Tìm sao được thuở mộng đầu dấu yêu
Đời người có được bao nhiêu,
Thời gian nghiệt ngã đã nhiều đắng cay

Cà phê giọt - giọt - ngắn - dài,
Tình xưa xa vắng mãi hoài ngóng trông
Xin chút ngọt, vị đường trong,
Nhắp môi dẫu đắng, tơ lòng còn vương

Tìm trong đáy cốc nồng hương,
Giọt tình ngọt lịm môi hường hôm nao
Cà phê giọt đắng - xanh xao
Thoáng như một giấc chiêm bao ngỡ ngàng...

Phạm Thị Minh-Hưng.
(SG-CN-12/3/2017- 
Viết cho cảnh đời nghiêng ngả chia xa!)

 

VỊ ĐẮNG CÀ PHÊ

Cà phê đen những giọt sầu,
Tìm sao được thuở mộng đầu luyến lưu,
Đời người có được bao nhiêu,
Thời gian nghiệt ngã, qua cầu, đợi ai

Cà phê giọt - giọt - ngắn - dài,
Tình xưa xa vắng vẫn hoài nhớ nhung
Xin chút ngọt, vị đường trong,
Nhắp môi dẫu đắng, tơ lòng còn vương

Tìm trong đáy cốc nồng hương,
Giọt tình ngọt lịm môi hường hôm nao
Cà phê giọt đắng tình sau,
Thoáng như một giấc chiêm bao mơ màng
Phạm Thị Minh-Hưng.
**
https://mail-attachment.googleusercontent.com/attachment/u/0/?ui=2&ik=3576133453&view=att&th=13f6ecb73d9aa710&attid=0.1&disp=inline&safe=1&zw&saduie=AG9B_P839aMbEKOPhNKmvnZzTHg-&sadet=1371967399815&sads=5Jo73LddHPTnpVncN5tiK9fuIOI
2013 MAY 15 CROP 280 SONG NÚI HẬN 
Hoa Đá-Thạch Lan.

TỨ ĐẠI MỸ NHÂN_TQ

Vương Chiêu Quân


Trong lịch sử Trung Quốc có bốn người con gái được mệnh danh là tứ đại mỹ nhân bởi có sắc đẹp làm khuynh đảo cả một đất nước, thay đổi cả lịch sử. Tương truyền, cả bốn người đẹp này đều có một điểm xấu nào đó.

 Tứ Đại Mỹ Nhân
Tây Thi - người đẹp chân to

Nàng là một thôn nữ dệt vải ở Trữ La Sơn, thời Chiến Quốc. Một hôm nàng ra sông giặt lụa, nước sông trong vắt, in bóng hình hoa mỹ của nàng khiến đàn cá xiêu lòng quên cả bơi lội, cứ từ từ lặn xuống đáy sông. Vì thế, người đời đã tôn Tây Thi là người có vẻ đẹp "trầm ngư" (cá lặn). Thế nhưng theo dân gian đồn đại, nàng Tây Thi có đôi chân quá to (so với "chuẩn" của Trung Quốc cổ đại) nên khi nàng bước chân xuống suối giặt lụa, đàn cá thấy chân nàng to quá nên hoảng hốt bỏ chạy.

Để người khác không nhìn thấy đôi chân kém thon của mình, Tây Thi đã tự may cho mình một chiếc váy đặc biệt dài để có thể che hết hình hài của đôi chân. Người đời không nhìn thấy đôi chân của nàng nên đều ca ngợi nàng là con người hoàn mỹ, sắc nước hương trời.

Vương Chiêu Quân bị lệch vai

Vương Chiêu Quân là người con gái đoan trang và trí tuệ nhất trong tứ đại mỹ nhân. Nàng tên là Vương Tường, quê ở Tuy Quỹ, đời nhà Hán. Tuy có sắc đẹp tuyệt thế nhưng nàng không được vua vời đến vì khi hình chân dung của nàng được dâng lên vua Hán Nguyên đế, tên Mao Diên Thọ đã chấm thêm một chấm đen dưới mắt nàng rồi tâu vua là nàng có nốt ruồi “thương phu trích lệ”, là tướng sát chồng. Sau này, nhà vua tình cờ lại nàng mới biết nốt ruồi sát phu kia không có thật. Mao Diên Thọ sợ tội, trốn qua chúa Hung Nô, đem theo cả chân dung Chiêu Quân. Vua Hung nô xem tranh mê đắm, đòi vua Hán phải nộp nàng, nếu không sẽ cất quân đánh. Biết mình yếu thế, vua Hán đành dứt tình để Chiêu Quân đi.

Trên đường đi, nhác trông đàn chim nhạn bay qua, lòng xao xuyến bồi hồi nhớ quê hương, Vương Chiêu Quân tức cảnh sinh tình, nâng đàn dạo mấy khúc. Tiếng đàn trầm bổng vang xa, khiến đàn nhạn quên cả vỗ cánh, cứ từ từ rơi xuống. Vì thế, Chiêu Quân được gọi là mỹ nhân lạc nhạn.

Tương truyền, Chiêu Quân tuy rất đẹp nhưng vẫn có một khiếm huyết, đó là hai vai hơi lệch nhau. Và để che giấu nhược điểm này, nàng phải làm thêm những miếng độn vai để áo không bị tụt và không bị người khác phát hiện.

Điêu Thuyền, mỹ nhân tai nhỏ

Sách Tam quốc diễn nghĩa kể rằng, Điêu Thuyền có gia cảnh tan nát vì loạn Đổng Trác, được quan Tư đồ Vương Doãn nhận làm con nuôi rồi nhận lời giúp ông thi hành mỹ nhân kế. Doãn hứa với Lã Bố gả Điêu Thuyền cho hắn rồi đưa nàng dâng cho Đổng Trác. Lã Bố mất mồi ngon nên làm phản, đồng mưu với Vương Doãn giết Đổng Trác.

Thánh Thán viết về Điêu Thuyền như sau: “Mười tám lộ quân chư hầu không giết nổi Đổng Trác mà một thiếu nữ đào tơ liễu yếu như Điêu Thuyền lại giết nổi Trác. Ba anh em Lưu, Quan, Trương hùng liệt không thắng nổi Lã Bố mà chỉ một nàng Điêu Thuyền lại thắng nổi. Lấy chăn chiếu làm chiến trường, lấy son phấn làm khôi giáp, lấy sóng mắt nụ cười làm gươm sắc giáo nhọn, lấy mày ngài làm cung nỏ, lấy nước mắt nũng nịu làm tên đạn, lấy lời ngọt ngào tình tứ làm chiến lược mưu cơ. Xem như thế thì cái bản lãnh của nữ tướng quân quả là tuyệt cao cường, đáng sợ lắm thay!”.

Tương truyền, Điêu Thuyền đẹp đến mức cả mặt trăng cũng phải xấu hổ mỗi khi thấy nàng, phải lặn đi khi nàng xuất hiện. Vì thế, Điêu Thuyền được gọi là mỹ nhân bế nguyệt. Tuy nhiên, nàng lại có một khiếm khuyết nhỏ, đó là đôi tai rất bé. Trong khi đó, theo quan niệm của người Trung Quốc xưa, tai to mới là quý tướng. Vì thế, Điêu Thuyền đã tự chế tạo và nghĩ ra một loại khuyên tai và loại kẹp tóc trang trí rất đẹp mắt để che đi cái tai quá nhỏ của mình.

Tuy nhiên ngày nay, các sử gia đã xác nhận Điêu Thuyền không phải là nhân vật có thật, vì vậy nàng có đôi tai nhỏ hay không cũng chỉ là chuyện kể cho vui mà thôi.

Dương Quý phi có cơ thể không thơm

Nàng tên là Dương Ngọc Hoàn, vốn là con dâu của Đường Minh hoàng, nhưng vì vua quá yêu nên đã tốn bao tâm cơ để "phù phép" nàng dâu thành quý phi của mình.

Tương truyền, sắc đẹp của Dương Quý phi rực rỡ đến nỗi ở cạnh nàng, các đóa hoa cũng phải lu mờ, chúng xấu hổ đến nỗi không dám nở. Thật đáng tiếc là Dương mỹ nhân lại có mùi cơ thể không thơm tho. Dân gian đồn đại rằng chính vì thế mà những cánh hoa không nở nổi, chứ không phải xấu hổ gì cả.

Tuy nhiên, là người của lầu son, Dương Quý phi có rất nhiều phương tiện để khắc phục nhược điểm này. Nàng hái những bông hoa thơm nhất trong vườn rồi chiết xuất thành nước thơm xức lên người. Ngoài ra, Dương Quý phi cũng tắm thường xuyên bằng các loại nước chứa hương liệu và thả hoa tươi. Vì thế, mùi cơ thể của nàng bị che lấp, chỉ còn lại một nhan sắc rực rỡ khiến nhà vua mê đắm.

Những "thông tin" về nhược điểm của các mỹ nhân trên đây cũng chỉ là chuyện được truyền tụng, vì các nàng đều sống cách đây quá xa, lại cách biệt trong hậu cung, khuê các, cho dù có điểm xấu cũng khó lòng kiểm chứng. Nhưng việc họ vẫn làm điên đảo các đế vương chứng tỏ rằng, cho dù có vết, nhan sắc của họ vẫn là những viên ngọc chỉ xuất hiện một lần trong hàng nghìn năm.



Chủ Nhật, 2 tháng 6, 2013

VÀNG THU_THƠ PTMH - PPS BÙI PHƯƠNG & TRẦN NĂNG PHÙNG


Vàng Thu.
Rừng thu vắng lặng, lá vàng rơi,
Xào xạc lá khô, những ngậm ngùi,
Lạc bước chiều thu tìm hư ảnh,
Hay mơ ngày cũ đã chung đôi.
*
Bao thu nhặt lá vàng ngõ trước,
Chắt chiu kỷ niệm dẫu xa vời,
Nhìn lá bay bay chiều gió cuốn,
Hiu hắt lòng - Tình đã phai phôi.
*
Ai bảo lòng người - Chiếc lá rơi,
Gió vô tình cuốn, mịt mù khơi,
Chiều thu nhung nhớ bên thềm cũ,
Tìm đâu, tình hun hút, cuối trời.
*
Rừng thu vàng lá, buồn lê thê,
Bâng khuâng, một bóng mãi đi-về...
Anh hỡi, có nghe Thu vẫy gọi,
Mơ một ngày, tình ấm áp, đam mê!
Phạm thị Minh Hưng 

**
VÀNG THU - Thơ PTMH - NS NHT Phổ nhạc - Bùi Phương


XUÂN VIỄN XỨ_THƠ HỒNG THỦY - NHẠC_NGUYỄN ÁNH 9 BP&TNP




Thứ Bảy, 1 tháng 6, 2013

GIẤC MƠ XƯA_PTMH - THƠ TRẦM VÂN - GỢI GIẤC MƠ XƯA_LÊ HOÀNG LONG



Ảnh_Kim Oanh Sydney.

Giấc Mơ Xưa.
Em là giấc mộng xa vời,
Hồn tôi chới với một thời vì đâu?
Mùa thu vàng lá vườn sau,
Cánh Hoa - Em ...Có phai màu...Tình xanh?
*
Đóa hoa xưa - Đóa mong manh,
Dường như tôi đã chênh vênh tơ trời,
Thế rồi... Mơ hết một đời,
Thế rồi... Tôi với giấc tôi...võ vàng...

Phạm Thị Minh-Hưng
**
SỢI TƠ MÀNH
Dễ thương, thơ rất dễ thương
Đi qua nỗi nhớ con đường chiêm bao
Tình tôi trước vẫn như sau
Hoa em mỏng mảnh phai màu tình xanh ?
Tình tôi như sợi tơ mành
Treo chuông mơ được dỗ dành chuông rung
Thời gian kéo sợi thun bung
Xổ ra mái tóc chập chùng hương yêu
Chiều xưa nắng dắt mưa dìu
Chiều nay bóng xế cô liêu vật vờ...
TV.

Thứ Hai, 27 tháng 5, 2013

CÂY SALA


PHẬT ĐẢN và HOA SALA
Trong kinh Phật, có hai loại cây được xem là linh thiêng và thường được nhắc đến nhiều là cây Bồ đề và cây Sa la. Dưới cây Sa la ở vườn Lâm Tì Ni (Lumbini), Đức Phật đản sinh.  Dưới gốc cây Bồ đề, thái tử Tất Đạt Đa giác ngộ thành Phật sau 49 ngày đêm thiền định. Cuối cùng, Ngài nhập diệt dưới cây Sa la tại Câu Thi La (Kusinara).

Inline image 1

Cây và Hoa Sala

Inline image 2

Sa la tên khoa học là Couroupita guianensis Mart. ex Berg, họ Lộc vừng Lecythidaceae, bộ Sim Myrtales; trong tiếng Anh thường gọi là Cannonball Tree. Ở Việt Nam, cây Sa la còn gọi là câyVô Ưu/ Vô Đàm, Đầu lân, Ngọc Đầu Lân, Hàm rồng. Giới chơi cây cảnh gọi là Ngọc kỳ lân. Cây phổ biến trong khu rừng tân nhiệt đới, đặc biệt là ở lưu vực sông Amazon. Nó có nguồn gốc ở Guyana (Nam Mỹ). Ngày nay cây này có thể tìm thấy ở Ấn Độ, miền Nam dãy núi Hy Mã Lạp, và về sau được trồng nhiều nơi ở Nam Á và Đông Nam Á.


Ở miền Nam Việt nam, cây có trồng ở các chùa như Xá lợi, Vĩnh Nghiêm... Có một cây Sa la to ở khu du lịch Bình Qưới, Thanh Đa; gốc to tới mấy người ôm.

Hoa Sa la thường được nhắc tới trong kinh Phật. Tán cây Sa la rậm rạp, hoa Sa la rất đẹp; những cánh hoa rất dầy, hoa nhìn cứ là lạ như là hoa của loài cây thời khủng long còn sót lại. Khi kết trái, trái Sa la chín rất hôi, và khi nó chín nẫu và nồng nặc thì lúc ấy hạt mới đủ già để mọc thành mầm cây mới. Đó cũng là qui luật sinh diệt mà nhà Phật dùng cây Sa la để tượng trưng.

Sa la là một loại cây thân gỗ, cây có thể cao tới 30-35m. Hoa Sa la ra từ thân cây, suốt từ gốc lên, chùm hoa dài ra liên tục có thể tới 2-3m, quả lớn tròn to đường kính quả 15-24cm, có 200-300 hạt trong một quả.


Cây Sa la là nơi Đức Phật sinh ra.  Theo tục lệ, khi chuẩn bị đến kỳ mãn nguyệt khai hoa Hoàng Hậu Maya cùng với đoàn tùy tùng về nhà cha mẹ để sinh.  Dọc đường, bà dừng chân nghỉ dưới gốc một cây Sa la ở khu rừng Lumbini, ngoại thành Kapilavatthu, thuộc nước Nepal ngày nay.  Cơn đau sinh ập đến, bà tìm nơi bấu víu và cây liền nghiêng nhánh xuống cho bà vịn.  Hoàng Hậu vừa vin cây thì cậu bé Siddharta ra đời và sau này tu luyện trở thành Đức Phật.  Hình ảnh cây Sa la vươn nhánh xuống cho hoàng hậu vịn trong lúc sinh hạ mang rất nhiều ý nghĩa.


Khi biết mình sắp viên tịch, Phật hành trình đến đền Càpàla, xứ Vesàli làm lễ, rồi di chuyển thêm một lộ trình khá dài đến tiếp Kusinàra. Mặc dù bị bệnh khá nặng nhưng Phật vẫn kiên quyết đi bộ, vượt sông đến rừng Sa la, xứ Kusinàra. Đoạn đường này dù chỉ có chừng 9km nhưng Phật phải đi mất khoảng 3 tuần, dừng nghỉ đến 25 lần vì bệnh và mệt.

Kinh Đại Bát Niết Bàn (Trường Bộ I), Phật dạy: “Đây là chỗ Như Lai diệt độ, nhập Vô dư y Niết bàn, này Ananda, đó là Thánh tích, người thiện tín cần chiêm ngưỡng và tôn kính”.  Như vậy, đến Kusinàra để nhập diệt là mục đích của Phật. Ngay cả Tôn giả Ananda cũng ngạc nhiên, thắc mắc về việc này: “Bạch Thế Tôn, Thế Tôn chớ có diệt độ tại đô thị nhỏ bé, hoang vu và phụ thuộc này.  Bạch Thế Tôn, có những đô thị khác to lớn hơn như Campà (Chiêm Bà), Ràjagaha (Vương Xá), Sàvatthi (Xá Vệ)…, Thế Tôn hãy diệt độ tại những chỗ ấy”.  Cũng nhờ sự thắc mắc này, Thế Tôn giải thích rằng, sở dĩ chọn Kusinàra để diệt độ vì đây là nơi Ngài đã xả bỏ thân mạng trong quá khứ.  “Ta đã từng sáu lần làm Chuyển luân Thánh vương và bỏ xác tại đây, nay Ta thành Vô thượng Chánh giác lại cũng muốn bỏ xác tại đây” (Kinh Du Hành, Trường A Hàm I; Kinh Đại Thiện Kiến Vương, Trung A Hàm II).

Theo ngài Narada, “Đức Phật chọn Kusinàra để nhập diệt vì ba lý do.  Lý do đầu tiên là để thuyết bài pháp Mahàsudasana Sutta nhằm khuyến khích đời sống đạo hạnh.  Thứ nhì là để dẫn dắt Subhadda, người đệ tử cuối cùng của Ngài, vì ngoài Đức Phật ra không ai có thể cảm hóa vị này được.  Thứ ba là để cho vị Bà la môn Dona có thể phân chia Xá lợi của Ngài một cách êm thắm giữa những người sùng mộ Ngài” (Đức Phật và Phật pháp, tr.225).


Kinh Đại Bát Niết Bàn ghi, khi đến Kusinàra, vào trong rừng sa la, Ngài nằm đầu hướng về phương Bắc, giữa hai cây Sa la song thọ.  Lúc bấy giờ, Sa la song thọ nở hoa trái mùa, tràn đầy cành lá.  Những đóa hoa này rơi xuống, tung vãi trên thân Như Lai để cúng dường Ngài.

Theo kinh Đại Bổn Duyên, Trường A Hàm I, cội sa la là Đạo tràng chứng đắc Vô thượng giác của Đức Phật Tỳ Xá Bà.  Kinh điển cũng ghi rằng, khu rừng sa la nơi Thế Tôn nhập diệt vì đau thương sầu thảm, khô héo và mang màu trắng như chim hạc, nên còn gọi là Hạc lâm.  Đặc biệt là bốn cây Sa la song thọ gần nơi sàng tọa của Phật nằm lúc nhập diệt, mỗi cây chỉ có một nhánh khô héo, chuyển sang màu trắng, cành lá hoa quả đều rơi rụng nhưng nhánh kia vẫn xanh tốt.  Bốn cây này được gọi là tứ khô tứ vinh thọ (bốn cây, mỗi cây có một nhánh sống và một nhánh chết).  Song thọ ở phương Đông tượng trưng cho Thường và Vô thường; song thọ ở phương Tây tượng trưng cho Ngã và Vô ngã; song thọ ở phương Nam tượng trưng cho Lạc và Bất lạc; song thọ ở phương Bắc tượng trưng cho Tịnh và Bất tịnh (Đại Niết Bàn kinh sớ, quyển 1). 


Chính hình ảnh của bốn cây Sa la “không phải sống mà cũng không phải chết” này đã nói lên sự thị hiện Niết bàn “sanh nhi bất sanh, diệt nhi bất diệt” của Thế Tôn.  Niết bàn là vô sanh, bất diệt giữa muôn trùng sanh diệt.  Bốn nhánh Sa la còn xanh tốt trong màu trắng tang thương của Hạc lâm biểu trưng cho bốn đức Niết bàn.  Chính giữa vô thường biến chuyển mới làm sáng tỏ cái chân thường, vạn pháp không đối lập mà dung nhiếp; tuy hai mà một, tuy một mà hai.  Vì vậy mà Thế Tôn đã chọn rừng Sa la làm nơi nhập diệt.

Như vậy, Sa la là cây thiêng (linh thọ) trong Phật giáo, giống như cây Bồ đề.  Lúc ngài Huyền Trang đến Kusinàra chiêm bái, rừng Sa la chỉ còn bốn cây, hiện nay còn hai cây là những chứng tích thiêng liêng.  Do đó, trồng cây Sa la để ngưỡng vọng Thế Tôn, hướng về Thánh tích, thú hướng Niết bàn là chuyện nên làm.


Một ngày nào đó, bạn bớt chút thời gian thử tìm ngắm cây và hoa Sa la để có thể suy ngẫm nhiều điều.  Ở Việt Nam, đạo Phật đã thấm sâu vào cuộc sống.  Dù nhiều người khai trong lý lịch là không tôn giáo nhưng vẫn tin và làm theo những triết lý và quy tắc Phật giáo.  Ngày nay trong thế giới phẳng của toàn cầu hóa với những bầy thú điện tử, con người ta quay cuồng vì tiền bạc và địa vị, nhưng vẫn cần dành thời gian để quay về với cuộc sống hàng ngày; vẫn cần quan tâm đến những điều tưởng như nhỏ nhoi; vẫn cần lắm những đức tin về cuộc sống, cần phải đối xử công bằng với muôn loài kể cả cỏ cây muông thú.


Nhớ tới cây Sa la nơi Phật sinh ra, cũng như là nhớ tới mảnh đất chôn rau cắt rốn.  Nhớ để bảo vệ gìn giữ từng tấc đất của Tổ quốc mình.  Nhớ tới cây Sa la - nơi Phật đản sinh và nhập diệt, cũng là nhớ tới quy luật sinh tồn tái tạo. Nhớ để duy trì bản sắc dân tộc, tạo sự trường tồn của nền văn hóa Việt.




THUỞ BAN ĐẦU_PĐ.CHƯƠNG - LÁ THƯ TÌNH YÊU_PTMH - PPS QUOCBAO & BUIPHUONG - Drink Your Tea_LÊ MINH LUÂN



 
Thuở Ban Đầu_PĐ Chương.
*
La Thu Tinh Yeu-Tho Minh Hung-Noi Long: Nguyen Van Khanh-Guitar: Vo Thuong Lá Thư Tình Yêu-Tho Minh Hung-Noi Long-Guitar: Vo Thuongbởi Quốc Bảo Phạm

Thứ Sáu, 24 tháng 5, 2013

PHƯỢNG MƠ_PTMH - MÙA PHƯỢNG CUỐI CÙNG_H.H. - PHƯỢNG_TRẦM VÂN

Phượng Mơ
[Viết giúp một Người lỡ yêu Phượng]

Anh tự đánh lừa mình, có phải không?
Rằng thuở ấy Phượng yêu mình đến thế
Phượng mong mỏi tình anh như cát bể,
Sóng biển dạt dào, tình Phượng mênh mông,

*
Phượng mong anh, như mong nắng mùa đông,
Trong bão tuyết, có tình anh sưởi ấm,
Tự lừa mình... rằng... Phượng đã âm thầm,
Bao thương nhớ gởi về anh một thuở,
*
Hoa Phượng đỏ, Hè về - Anh rất nhớ,
Phượng thắm yêu kiều, Phượng của ngày xưa,
Anh cứ mơ, dáng Phượng quá xa mờ,
Anh đứng đợi, trường xưa, nhìn lá đổ,
*
Cánh Phượng rơi rơi, tình sao không tới,
Phượng đã xa rồi, tình như mây khói,
Chỉ mình Anh mong nhớ, tình bơ vơ,
Giọt mưa thu, Ôi! Giọt sầu vụn vỡ!
*
Phượng xa vời, Phượng như một giấc mơ!
Cánh hoa học trò, tình xưa diệu vợi,
Vẫn trong anh muôn thuở... Tình ngu ngơ...
Phượng mãi là... Tình mơ, thuở học trò!
Phạm Thị Minh-Hưng.
 **
Muà Phưng cui cùng
Hè năm đó. em vưà tròn mười tám,
Niên hc cui cùng, bun lm Anh ơi,
Khp phố phường, hoa phưng n đ tri,
trong nng H, râm ran li ve hát.
Niên hc cui cùng, âm thầm lau  nưc mt,
em như chim lià rng,
ngơ ngác bốn phương xa.
Niên học cuối cùng, ve sầu thê thiết lạ.
Phượng cũng sớm  buồn, lả tả rụng đầy sân.
Nắng hạ vàng buồn bã dưới gót chân,
Anh xa quá, dù gần trong gang tấc.
Bảo đừng khóc, nhưng lệ đầm trên má,
Vì ngày mai, hai ng chiếc thuyn trôi.
Mi hè v nhìn phưng thm nơi nơi,
Em li nh mái trưng xưa yêu du.
Em li nh thu tình đu thơ di,
Chẳng dám hẹn hò mà mãi mãi luyến lưu.
Dù hôm nay, hai  phương trời diệu vợi,
Hè chẳng phượng hồng, vắng ngắt  lời ve.
Trong âm thầm lặng lẽ, em vẫn nghe,
Những rung động đầu đời xưa thân ái.
Tóc đã bạc màu.
Muà Phượng hồng em nhớ mãi,
Nhớ thuở học trò,
Nhớ Anh,
Và nhớ cả mái trường xưa.
 Hoài Hương.(tháng 7/2012/AZ.)
**
Thơ TRẦM VÂN:
 Gọi em là Phượng...

Gọi em là Phượng được không ?
Bởi em rực đỏ xoay vòng thời gian
Tay xòe mười ngón mơ màng
Vo tròn những tiếng ve ran gọi mùa

Lòng tôi ngàn tiếng guốc khua
Trái me chia nửa còn chua đến giờ
Con đường góc phố ngu ngơ
Ly kem chờ đợi đôi bờ môi thơm

Chờ em sương khói bồn chồn
Em về tóc thả mùi hương lạ kỳ
Mùi hương giọng nói nhu mì
Chút chanh chua ấp ủ gì bên trong ?

Trái dưa xanh vỏ đỏ lòng
Tình tôi đỏ mãi theo cùng bước em
Hình như mưa gió hờn ghen
Khi không mưa đổ ướt mèm đôi ta

Để lòng tôi mãi xít xoa
Khăn tay lau mãi chưa nhòa giọt thương
Giọt mưa chiều ấy còn vương
Áo dài trắng cả con đường phiêu bay

Giấc mơ đêm đã qua ngày
Neo bao thương nhớ ngất ngây tâm hồn
Bao thu tình ngỡ vùi chôn
Hè nay lại đến dỗi hờn Phượng ơi

Vĩ cầm ve kéo lệch trời
Nghiêng đôi cánh Phượng đâm chồi vần thơ
Cơn mưa ập đến bất ngờ
Buồn tôi sũng ướt bơ vơ gọi chiều
 Trầm Vân
Phượng Yêu_Phạm Duy.
 *
Phượng Hồng_Bằng Kiều.
 
 Con đường vào Sterling Winery
*
 Nho làm rượu vang tại Napa Valley
Calistoga - Bắc California.



Thứ Năm, 23 tháng 5, 2013

NỢ TÌNH_THƠ PTMH - BÙI PHƯƠNG PPS


 
Vườn Nho
Cây Nho tại Napa Valley-Bắc California-Calistoga
nơi sản xuất rượu vang nổi tiếng: V.Sattui Winnery, 
Sterling Winery, Castello di Amorosa.


Nợ Tình

Kiếp này đã trót nợ nhau,
Làm sao trả hết trái sầu, tình xanh,
Nợ anh tuổi mộng mong manh,
Nợ đôi môi mọng, ngại ngần mắt yêu,
Nợ anh vương vấn tơ chiều,
Nợ thân thanh liễu, ấp yêu tình nồng,
Nợ vơ vẩn buổi chiều đông,
Mắt môi e ấp, nhớ nhung võ vàng,
Nợ sầu những buổi thu sang,
Nợ nhau ngàn ánh trăng vàng bên song,
Ngàn sao lấp lánh chờ mong,
Ngân Hà dòng sữa, mênh mông, hữu tình,
Nợ nần sao trả, đếm đong,
Mây trời ngăn lối, dở dang mộng sầu,
Nợ nhau một khối tình sâu,
Nợ nhau từ thuở tươi mầu thanh tân,
Nợ chi một bước tình gần,
Trăm thương nghìn nhớ phải ngần ngại xa,
Bao giờ mình được bên ta
Sẽ xin trả hết... tình...tha thiết, nồng.
Phạm Thị Minh Hưng.

Thứ Ba, 21 tháng 5, 2013

GỌI ĐÒ CHIỀU ĐÔNG_THƠ PTMH.- NHẠC_NGUYỄN ÁNH 9 - TELL ME WHY_DECLAN GALBRAITH


p1936127720 (640x417, 277Kb) 
Tranh màu  nước_Nita Engle_Michigan
*
Gọi Đò Chiều Đông

Em gọi tên anh suốt canh trường,
Tay quờ quạng gối, đâu người thương,
Môi mắt hững hờ, lòng cô quạnh,

Giá buốt vật vờ, nhung nhớ, vấn vương,
*
Em gọi anh, gọi đò chiều đông,
Đò xa, heo hút gió, mịt mùng,

Con đò yêu dấu em nào thấy,
Mây trời xám ngắt, thủy triều dâng.
*

Gọi anh, anh ở đâu, buồn trông,
Ngày nao thuyền mộng đã xuôi dòng,
Bây giờ bến cũ sầu riêng bóng,
Tìm đâu, yêu dấu, ngát hương nồng!

*
Anh lạc nơi đâu, đời rêu phong,
Cõi tình em vàng võ, long đong,
Bao đêm đông giá, sầu hiu hắt,

Em còn gì, đời băng tuyết, lạnh lùng!
*
Anh hỡi, về đi, một buổi chiều,
Đời em thôi lẻ bóng, liêu xiêu,
Xuân-Hạ-Thu-Đông em mãi đợi,

Sợi tình Anh, khâu vá dấu yêu! 

Phạm thị Minh-Hưng
** 
Cô Đơn_Nguyễn Ánh 9_Nguyên Khang
*
Bơ Vơ_Nguyễn Ánh 9_Lưu Bích
 
Tell Me Why
**

Thơ PTMH - BAOP video_IF YOU GO AWAY.







THÁNG NĂM CỎ ÚA_THƠ PTMH


 Sông Nước Miền Tây_Ảnh Kim Oanh Sydney.

THÁNG NĂM CỎ ÚA.

Ngày tháng đó Mùa Xuân qua rất vội,
Nắng ngập ngừng, tàn úa lá khô bay,
Chiều lạnh lùng, bơ vơ, hồn sa mạc,
Bóng tối mịt mờ, hoang vắng, chơi vơi...

Tháng Năm ấy, ai nhuộm màu cỏ úa,
Đóa quỳ vàng hờ hững nắng ban mai,
Phai nhạt, dập vùi một loài hoa dại,
Tình hư không, xa vắng...bước đường dài,

Bên khung cửa, mùa Xuân đi xa mãi,
Mảnh trăng sầu, nhung nhớ dáng hương xưa,
Mây lững lờ trôi, gió về ái ngại,
Dấu giọt buồn, đôi mắt thoáng xa xôi...

Tháng Năm xưa, ngày gập ghềnh mưa bão,
Ơ thờ, quên mình - Thân cỏ mong manh,
Kỷ niệm vùi chôn bên làn tóc rối,
Tháng Năm buồn...Mưa ướt lạnh bờ vai.

Có vạt nắng hoàng hôn nào sót lại,
Sưởi ấm dùm...Chiều tím trót lênh đênh...
Phạm Thị Minh-Hưng.
**

  BUỒN XƯA

Bao giờ cũng thế, tháng năm có cái gì từ tạ:
Khi cành phượng đã thắm suốt vỉa hồn
Màu đỏ thắm trên cao, làm trời mãi xanh hơn
Cũng không đủ tươi hơn cho chân đầy lá úa...

Vẫn còn đó những con tim vụn vỡ
Dấu tàn phai mờ lệ mắt học trò.
Tiếng lao xao nghe mưa đến từ xa,
Chưa ướt tóc mà hồn như ướt đẫm!

Chẳng ai nói với ai mà tai buồn ngàn vạn
Những ủ ê của tình khúc ve sầu...
Những run run của đôi nắm tay nhau...
Sợ sẽ đứt những nuông chiều mới đó.

Cánh phượng rơi trên chông chênh lá đổ.
Sao bồng bềnh như lặng khúc chia ly?
Rồi ngày mai, ngày mai nữa lê thê...
Nuốt mà nghẹn từng lời không dám nói!

Nhiều ngày mai, để chiều nay nắng vợi.
Vẫn tháng năm, vẫn cánh phượng cao vời.
Ta một mình bước nhẹ, ngóng mưa rơi,
Mong cho đủ những buồn xưa tái hiện...

                     LAM TRẦN 22.05.2013
*****
MỘT CHIỀU BỔNG DƯNG NHỚ ĐÀ LẠT
Miền ký ức
Lơ đểnh bềnh bồng...
Thành phố của tôi
Thành phố sương mù
 
Hạt nắng chiều phủ kín đồi thông
Nhẹ bước thong dong vài phố chợ
Giọt cà phê ta vội đi tìm
Nuốt vị đắng qua từng khe lưởi
 
Ta vẫn bước còn ai cúi mặt
Đứng góc đường tìm hạt nắng khô
Hồ Xuân Hương gợn sóng nhấp nhô
Hồn phiêu bạc mơ về dĩ vãng
 
Ta đã trải đời dân bản xứ
Giờ này lạc lỏng quá đi thôi
Tưởng không gian mãi mãi của ta
Từng nhịp thở bây giờ đứt đoạn
 
Đà Lạt còn gì mà níu kéo!
Chiều sương giăng phủ khắp mặt hồ?
Là tình nhân môi kề má thắm?
Quên thời gian quên cả chiều mưa
 
Qua nhớ qua không ? chiều ly biệt
Nay qua về người đó đi mô?
Không còn đọng hương ngày xưa củ
Mất bản tình ca muôn thuở xưa
 
Đà Lạt chiều, vẫn góc quán quen ấy
Chứa khúc tình bất tử của tháng năm
Giọt cà phê,  đậm đà và quyến rủ
Từng ngày, từng giờ, từng góc phố êm
Nhớ đến em, biết đi mô để tìm
Chiều Đà Lạt, từng bước chân chậm rãi
Mỗi bước đi chấm phá quyện vào nhau
Mà trong đó em, tôi là nhạc sĩ
 
Giữa hai miền ký ức
Niềm lo sợ mênh mông
Lòng chợt buồn chợt vui
Cuộc đời mình từ đây
Còn có gì quí giá
Mà san sẻ cùng ai?

TSN, Chiều mưa Canada 21-05-2013
 

Nắng Thủy Tinh_TCS.
**
kiwi 
Cành trái KiWi_TTPhuSi.

Thứ Hai, 20 tháng 5, 2013

TÓC TRĂNG_TRẦM VÂN - PAD_NHỮNG BÀI HÁT VỀ TRĂNG PHỔ THƠ.

Tóc Trăng


Trăng ơi tôi gọi trăng về
Tay buồn vuốt mái tóc thề em xưa
Lòng xôn xao tiếng guốc khua
Cổng trường chờ đợi bao mùa áo bay
Cái ngày tay mới cầm tay
Môi chưa dám chạm đã ngây ngất hồn
Con đường phố hẹn bồn chồn
Áo bay lồng lộng mùi hương học trò
Mùi hương kỳ lạ thơm tho
Thoảng trong ký ức đôi bờ chiêm bao
Thơm lừng cây cỏ đêm sao
Lời em dịu rót ngọt ngào vào trăng
Môi hồng óng ả đóa rằm
Tình tôi như thủy triều dâng nồng nàn...

Ngày trăng lu lạc ánh vàng
Tình xa đôi ngả ly tan đau buồn
Tóc trăng ngày ấy em buông
Hương còn neo lại cổng trường vòm cong
Giấc mơ tôi vẫn neo lòng
Ép trong tim nỗi nhớ mong đợi chờ
Tay buồn vẫy gió thành thơ
Đêm dìu đôi bóng thẫn thờ vầng trăng
 Trầm Vân


Hôm qua tôi có tìm được 5 bài thơ về Trăng do tôi phổ nhạc 
Một bạn có nhắc bài thứ 6 là Đêm Nguyệt Cầm
Xin thêm vào danh sách để mời quý vị cùng nghe/xem
PAD
===========================

1. Nguyệt Ghẹo (thơ Sóng Việt Đàm Giang, nhạc Phạm Anh Dũng) Hạnh Nguyên hát, Quang Đạt hòa âm:

2. Hư Ảo Trăng (thơ Nguyên Sa, nhạc Phạm Anh Dũng) Mai Hương hát, Duy Cường hòa âm::

3. Chia Nửa Vầng Trăng (thơ Phạm Ngọc, nhạc Phạm Anh Dũng) Khắc Dũng hát, Quốc Dũng hòa âm:

4. Trăng Sáng (thơ Nguyễn Văn Thu, nhạc Phạm Anh Dũng) Xuân Thanh hát, Huỳnh Nhật Tân hòa âm:

5. Rực Vầng Trăng Khuyết (thơ Phạm Ngọc, nhạc Phạm Anh Dũng) Mỹ Lệ hát, Quốc Dũng hòa âm:

6. Đêm Nguyệt Cầm (thơ Vương Ngọc Long, nhạc Phạm Anh Dũng) Bảo Yến hát, Quốc Dũng hòa âm:

PAD
Phạm Anh Dũng
 http://my.opera.com/phamanhdung1/blog/

HOA ANH ĐÀO WASHINGTON - Mỹ