THƠ SONG NGỮ TRONG Thi phẩm Lưu Nguyễn Đạt: LỜI CỦA CÁT -- PAROLES DE SABLEMong đọc để có ý "lĩnh thơ/nhặt thơ" Lưu Nguyễn Đạt [với tư cách một người "Yêu Thơ LNĐ" vậy. Đa tạ.
See các Links dưới đây [BẤM VÀO TẬP NÀO, SẼ ĐỌC ĐƯỢC TẬP ẤY]: ACTIVE TITLESThân, LNĐạt
Phạm Thị Minh-Hưng-Từ 07-12-2012 ptminhhung56@gmail.com Hay: minhhungp@gmail.com Tranh_Nguyễn Sơn
Hiển thị các bài đăng có nhãn thơ tuyển chọn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn thơ tuyển chọn. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Hai, 29 tháng 9, 2014
LỜI CỦA CÁT_LƯU NG ĐẠT - Nhạc DẤU TÌNH SẦU_ANH TUẤN
Thứ Tư, 10 tháng 9, 2014
PHỐ YÊU - CÕI RIÊNG
CÕI RIÊNG
Em nhốt ta vào cung điện xanh
Cho thân ta lạnh giữa cung đình
Khêu trăng bạch hạc về thương nhớ
Một cõi ân tình ôi tuyết trinh
Nhớ thuở yêu em thật lạ kỳ
Vô tình hay cũng bởi phân ly
Chẳng phải ta say tình mộng mị
Mà để tàu đêm em bước đi
Gặp lại đêm nay em nghê thường
Lung linh xiêm áo ta mê cuồng
Có phải trăm năm là huyễn mộng
Hay là dư ảnh những ngày thương
Biết chẳng mai kia chẳng cuối đường
Thôi thì hương cốm gói yêu đương
“Hai mươi năm nữa mình sao nhỉ?”
Em hỏi làm ta thêm nhớ thương!
Ta biết ngày mai em lại xa
Còn chăng nhung nhớ những ngày qua
Buổi sáng trông gương tìm bóng lạ
Vết buồn riêng một cõi bên ta.
PHÙNG QUÂN
BẢN ÁN
Bản Án
Hoàng Hương Trangnày em, hãy nghe đây bản án
anh mang theo vũ khí tình yêu
bắt giam em trong tim anh vĩnh viễn
xiềng xích em bằng mật ngọt nuông chiều
em đừng hòng có khi nào vượt ngục
anh sẽ cho nghìn sợi nhớ bủa vây em
anh sẽ thả nghìn sợi thương giăng lưới
bắt em về giam chặt suốt ngày đêm
em đừng mơ một ngày nào mãn án
loại tù em là loại án chung thân
phải khổ sai bằng tình yêu say đắm
phải biệt giam trong tim thắm máu hồng
ngục thất chỉ có mặt trời tình yêu
bữa ăn chỉ có một món tình yêu
hơi thở chỉ có dưỡng khí tình yêu
đó là quy chế bắt em phải theo
nếu em hỏi là : em có tội gì ?
ai cho anh quyền được bắt em đi ?
quyền Thượng đế cho anh, em nhớ lấy
tên tội đồ làm nát trái tim si
nếu em không chịu tuân theo luật hình
và nếu trái tim anh chưa hồi sinh
thì kiếp sau anh kêu thêm bản án
lại tống giam em trong trái tim mình
Thứ Bảy, 10 tháng 5, 2014
Chủ Nhật, 12 tháng 1, 2014
SẮC XUÂN MƠ_PTMH - Thơ Mặc Nhân TVC - Chuyện Con Ngựa
http://www.sachvatranh.com/ magazine.php link
*
Thơ MẶC NHÂN TVC


Nhớ trường xưa
Từ độ mai vàng biệt nắng xuân
Hoa đào viễn xứ nở bao lần
Thương về trường cũ vế trong mộng
Theo dấu người xưa vọng núi Tần.
Tiếng ai hát…
Phím trắng đèn đêm đàn để lạnh
Ai đàn, ai hát, hát ai nghe
Nửa đêm những tưởng lời ngân cũ
Nhưng chỉ buồn thay! gió lạnh về.
*
Thơ MẶC NHÂN TVC
Tìm lại người em tiền sử
Ta trở về tìm lại chốn hoang khai
Vùng nhật nguyệt trăng sao màu tím ngắt
Biển đông giá, mặt trời còn tím ngắt
Rong rêu vàng, mầu đất chửa phôi phai.
Tôi tìm em, một người em tiền sử
Để nhìn em còn hòa nhập thiên nhiên
Để có được một người em nguyên bản
Của đất trời từ thưở mới khai thiên.
Đôi vai trần chắc nịch, mùi hương xạ.
Mảnh thân gầy mà đồi núi trập trùng
Tôi lạc bước trong hổn mang cơ thể
Để nghe chừng mùi đất biển hòa chung
Đôi mắt em là lửa trời đỏ rực
Mắt thú rừng để soi bóng u minh
Đôi chân trần sòng soài như bẩy sập
Trời vô tình nhìn đến lá nho xanh.
Em vào đời như nước nguồn lửa núi
Nhựa hoa căng sẵn đợi chú ong về
Em hiến trọn và nhận về tất cả
Của đất trời trong khoảnh khắc đê mê.
Nhịp âm dương xoay vần chỉ có thế
Như cỏ cây, như cầm điểu, thú rừng
Em đã đến với đời như mảnh vở
Của đá trời gieo giống xuống trần gian
Rồi đến lúc em cho đời bên vách đá
Ánh thái dương hoàn tất một bào thai
Trong vũng máu đỏ hồng màu sinh khí
Tiếng tu oa khởi điểm một hình hài.
*
Nhớ trường xưa
Từ độ mai vàng biệt nắng xuân
Hoa đào viễn xứ nở bao lần
Thương về trường cũ vế trong mộng
Theo dấu người xưa vọng núi Tần.
Phím trắng đèn đêm đàn để lạnh
Ai đàn, ai hát, hát ai nghe
Nửa đêm những tưởng lời ngân cũ
Nhưng chỉ buồn thay! gió lạnh về.
**
**
Trong
thập nhị chi, con giáp thứ 7 là con ngựa hay Ngọ chữ Hán Việt là Mã 馬.
Tên khoa học: Equus caballus. Nếu ghép vào can chi thì có các năm: Giáp
Ngọ, Bính Ngọ, Mậu Ngọ, Canh Ngọ và Nhâm Ngọ. Ngọ thuộc cực dương vì 12
giờ trưa là giờ Ngọ, tháng 6 là tháng Ngọ cây cối phát triển nhanh… Loài
ngựa gắn bó với con người từ thời Thượng Cổ, con người bắt đầu thuần
dưỡng
ngựa vào khoảng 4000-4500 TCN. Khởi đầu ngựa hoang được thuần hóa ở
miền nam nước Nga, nam Sibirien, các miền đông tây Á Châu và từ đó ngựa
phổ biến trên khắp lục địa Á - Âu. Người ta thường nuôi ngựa làm phương
tiện đi xa buôn bán với các bộ lạc khác nhanh chóng, thuận lợi hơn hoặc
đi săn bắn xa và sau đó bắt đầu dùng ngựa tiến hành chiến tranh để cướp
đất đai trong quy mô lớn.
(Bức họa của Holmes Sullivan William năm 1877 vẽ nữ Bá tước Godiva (Godgifu) cưỡi đi quanh thành phố Coventry, Anh Quốc năm 1040 để yêu cầu chồng là Bá tước Leofric giảm thuế cho dân)
Ngựa trong danh từ khoa học:
Giới (regnum): Animalia
Ngành (phylum): Chordata
Lớp (class): Mammalia
Bộ (ordo): Perissodactyla
Họ (familia): Equidae
Chi (genus): Equus
Loài (species): E. caballus
Chủng tộc ngựa có bốn nhóm: thoroughbred/Vollblut (giống ngựa nầy ở Á Rãp và Anh Quốc); warmblood/Warmblut; draft horse/ Kaltblut; ponies /Ponys. Mỗi nhóm, chi có đời sống tập tính khác nhau như: Ngựa vằn núi Bergzebras (Epuus Zebra), ngựa Quagga (Epuus quagga), ngựa Onager (Epuus hemionus) thuộc loại nửa ngựa nửa lừa) ngựa Przewalskipferd (Epuus Przewalskii) ngựa Steppentarpan (Epuus przewalskii igmelini) ngựa Waldtarpan (Epuus Przewalskì silvaticus) ngựa Westpferd (Epuus przewalskii robustus); ngựa ở Phi Châu Wildesel (Epuus asinus africanus); ngựa ở bắc Phi Châu Wildesel (Epuus asinus atlanticus)….Tùy thuộc vào giống môi trường, thức ăn, nước uống v.v, ngựa có tuổi thọ khoảng 25 đến 30 năm. Ngựa cái mang thai kéo dài khoảng 335-340 ngày. Ngựa con vừa lọt lòng mẹ có thể đứng và đi ngay. Ngựa bốn tuổi được coi là ngựa trưởng thành, mặc dù chúng tiếp tục phát triển bình thường cho đến sáu tuổi, thời gian hoàn thành sự phát triển của ngựa cũng phụ thuộc vào kích cỡ của ngựa, giống, giới tính.Có loại ngựa dài 2.80m cao 1,5m…..Ngựa ăn cỏ, dạ dày ngựa chỉ có một túi và không thuộc bộ nhai lại như trâu bò, răng ngựa tốt, ăn và nghiền nhỏ thức ăn, ngựa đực có 40 cái răng, ngựa cái chỉ có 36 cái. Uống nước mỗi ngày từ 30-60 lít nước. Tai ngựa rất thính, nhãn quan của ngựa rộng nhưng chỉ thấy rỏ về phía trước hơn, khuyết điểm không nhìn rõ hai bên, nên hay hoảng sợ khi nhìn thấy các di động hai bên, bởi vậy người ta dùng hai miếng da che hai bên mắt để ngựa kéo xe chỉ nhìn thấy phía trước. Ngựa có nhiều màu như lông màu trắng gọi là ngựa bạch, đen tuyền gọi là ngựa ô, đen pha đỏ tươi là ngựa vang, đen pha đỏ đậm là ngựa hồng, tím đỏ pha đen là ngựa tía, trắng sọc đen là ngựa vằn... Về cách đi đứng của ngựa có nhiều động từ để diễn tả như: đi, bước, rảo, chạy, nhảy, kiệu, phóng, vút, phi (bay), tế, sải, lao, vọt, phốc, phi nước đại, phi nước kiệu, phi rạp mình, ngựa lồng: ngựa chạy trung bình mỗi giờ từ 40-50 km, nhưng có thể chạy nhanh đến 90 km/ giờ. Người ta lấy sức ngựa (mã lực) làm tiêu chuẩn tính sức mạnh của động cơ Kilowatt (1 PS=75 mkp/S; hay 1 PS= 0,735498 KW).
Chân ngựa cũng có nhiều ngón, nhưng chỉ có một ngón giữa phát triển to ra, trên đầu ngón có một cái móng bằng chất sừng bao bọc ở mặt ngoài của móng ngựa, chất sừng rất dày cứng, nó gắn chặt với xương ngón chân, nhưng phần phía trong của móng là chất sừng mềm có tính đàn hồi co giãn được, nó có tác dụng làm giảm xung lực từ mặt đất khi ngựa bước đi. Vì móng ngựa là chất sừng cứng, khi ngựa đi lại trên đất, đá lâu ngày, lớp sừng bảo vệ bên ngoài sẽ bị mòn đến lớp sừng mềm bên trong. Ngựa bị đau chân không thể chạy nhảy kéo xe được Vì thế người ta đóng móng cho ngựa để bảo vệ cho móng không bị mòn. Có thợ chuyên môn rèn sắt đo ni lấy một cái vành bằng sắt có đục lỗ sẵn đóng móng cho ngựa, đã được sáng chế từ thời La Mã cổ đại.
Ngựa trong chiến tranh được gọi là Ngựa chiến hay chiến mã.
Hình
ảnh ngựa còn là chủ đề cho các môn nghệ thuật như hội họa, điêu khắc,
thơ văn... Đối với văn hóa phương Tây, ngựa gắn liền với nhiều biểu
tượng thần thoại. Quan hệ giữa chủ nhân và ngựa không khác gì đôi bạn
thân, cùng nhau vào sinh ra tử, xông pha trận mạc. Bên cạnh chiến binh,
ngựa được coi là chiến mã, tượng trưng cho sự dũng mãnh, thần tốc và
lòng kiêu hãnh, các binh chủng kỵ binh, kỵ mã, kỵ xạ, thám mã trong
chiến đấu, săn bắn… Người Ai Cập và Trung Hoa cổ đại sử dụng xe ngựa
kéo, sáng chế ra yên cương và bàn đạp giúp tăng hiệu quả chiến đấu của
chiến mã và giúp cho người cưỡi giữ thăng bằng, ổn định và không bị ngã
ngựa. Các hiệp sĩ trên lưng ngựa mặc áo
giáp với một thanh kiếm hoặc giáo thương, đại đao hoặc các vũ khí đánh
xa khác… có sức chống lại mạnh mẽ và gây nguy hiểm cho hầu hết các loại
lính bộ binh.
Việc sử dụng chiến thuật ổn định từ ngựa chiến được đóng yên cương và bàn đạp chân đã cho phép người Mông Cổ có thể tấn công và bắn tên hiệu quả từ trên lưng ngựa (nhất là các kỵ xạ), đồng thời đem đến cho họ sự linh động để chinh phục phần lớn các vùng đất đã biết đến trên thế giới. Thành Cát Tư Hãn/Genghis Khan phiên âm Hán: 成吉思汗 (trị vì 1206-1227) là người sáng lập ra Đế quốc Mông Cổ. Vó ngựa quân Mông Cổ tung hoành khắp nơi, nhờ giống ngựa Mông Cổ với vóc dáng có phần nhỏ hơn, chân ngắn hơn, bờm và đuôi rậm hơn, song chúng ít đòi hỏi chăm sóc, sức chịu đựng tốt, đặc biệt thích nghi tốt với khí hậu cận nhiệt đới. Quân Mông Cổ đã bành trướng xuống phía Nam, ngựa Mông Cổ có thể nói là phương tiện duy nhất để di chuyển đại quân từ Á sang Âu. Vó ngựa Mông Cổ đi đến đâu thì cỏ không mọc được, đến đâu thì bình địa đến đó, máu chảy đầu rơi, xơ xác. Nhưng đến Việt Nam bị Hưng Đạo Vương đánh thua chạy dài về nước.
Theo truyền thuyết Đời Hùng Vương thứ Sáu nổi tiếng và đặc sắc nhất về ngựa là hình ảnh ngựa thần của Thánh Gióng, cậu bé làng Phù Đổng đã vươn vai thành người lớn cưỡi ngựa sắt, cầm roi sắt ra trận dẹp tan giặc Ân. Hình ảnh Thánh Gióng cưỡi ngựa thần bay lên trời tượng trưng cho sự tự do, bất khuất, lòng dũng cảm, ý chí kiên cường. Tại ngã sáu ở Sài Gòn còn tượng tưởng nhớ Phù Đổng Thiên Vương.
Ngựa
thành Troia Hy Lạp Cổ đại: Người Hy Lạp sử dụng ngựa trong chiến trận.
Lịch sử Hy Lạp cách đây hơn 3200 năm có chuyện ngựa gỗ thành Troia. Khi
quân Hy Lạp đến bao vây thành Troie (Trojanische Krieg), dân thành này
chống cự mãnh liệt, quân Hy Lạp không thể nào vô thành được. Theo mưu
mẹo của Odysseus/ Odyssey chế ra một con ngựa gỗ rất cao lớn, bên trong
rỗng ruột để quân lính chui vào nấp, sau đó giả vờ bỏ con ngựa lại chiến
trường rồi ra lệnh tất cả thuyền bè rút ra khơi. Dân thành Troia thấy
quân Hy Lạp rút lui, vui mừng kéo nhau ra khỏi thành hì hục đưa con ngựa
gỗ vào bên trong thành như là một chiến lợi phẩm quý giá thu được từ Hy
Lạp. Nửa đêm hôm ấy, quân mai phục từ bụng con ngựa chui ra chém giết
lung tung, mở cửa thành cho quân Hy Lạp tràn vào. Thành Troia thất thủ,
vua Priam bị giết, câu chuyện ngựa gỗ phá thành được chép lại như một
thiên anh hùng ca trong các tiểu thuyết của nhà thi hào Homer. Phim cuộc
chiến thành Troia
Ngựa trong đời sống bình dân
Ngựa là gia súc đóng góp to lớn trong việc mưu sinh và sự phát triển của con người. ngựa đối với người phương Đông còn là biểu tượng của lòng trung thành, sự kiên trì, nhẫn nại và cần mẫn. Trong thời bình ngựa giúp chúng ta cày bừa, chuyên chở hàng hóa, kéo xe, chở người di chuyển trên đường xa, những nơi hiểm trở. Ngoài ra ngựa là phương tiện di chuyển nhanh nhất thời xưa trong vấn đề liên lạc thư tín, công văn …và tạo những niềm vui cho công chúng như đua ngựa, đi săn, cưỡi ngựa thi bắn tên, làm xiếc thú. Ngựa còn cho ta thịt để ăn và cúng tế, xương nấu cao ngựa làm thuốc, giúp các nhà y học chế ra các loại huyết thanh trị bệnh, huyết thanh chống nọc rắn. Viện Pasteur Nha Trang thành lập từ năm 1895, đến năm 1896 bác sĩ Yersin đã lên vùng Suối Dầu, thành lập một trang trại chăn nuôi ngựa lấy huyết thanh bào chế vacxin phòng chống bệnh dịch hạch. Và cũng từ trại ngựa này, Yersin đã sáng chế ra những loại huyết thanh cổ điển khác như kháng huyết thanh bạch hầu, uốn ván. Cho đến nay, với hơn 100 năm tồn tại và phát triển, trại chăn nuôi vùng Suối Dầu đã trở thành một trung tâm sản xuất vacxin lớn trong khu vực, với số lượng thú nuôi phục vụ nghiên cứu khoa học đứng đầu trong cả nước gồm ngựa, thỏ, chuột lang, chuột bạch.
Tiếp bước theo công trình của bác sĩ Yersin, tập thể các cán bộ ở trại chăn nuôi Suối Dầu đã bào chế ra những kháng huyết thanh mới từ ngựa như kháng huyết thanh trị rạ, trị nọc độc rắn cắn, mới đây nhất là nghiên cứu phát triển loại kháng huyết thanh chữa ngộ độc cá nóc cho ngư dân, theo tinh thần mà ngày xưa bác sĩ Yersin đã đề xướng: nghiên cứu và phục vụ đời sống.
Nhiều giống ngựa đã tuyệt chủng, nhưng nhiều giống ngựa khác được lai giống to lớn có lông mai và đuôi dài rất đẹp, hàng năm lễ hội Beer Tháng Mười ở Munich nhiều ngựa to lớn kéo xe rất đẹp
Ngựa trong văn chương
Thời
xa xưa đời sống hàng ngày chỉ sử dụng phương tiện di chuyển, kiệu, cán,
xe kéo và ngựa. Ảnh hưởng đời sống nên truyện Kiều của thi hào Nguyễn
Du nhắc đến ngựa rất nhiều lần, hơn 24 câu nói đến ngựa. (1)
Trong đoạn thơ tả cảnh chị em Thuý Kiều, Thuý Vân đi lễ hội Thanh minh:
Dập diều tài tử giai nhân,
Ngựa xe như nước, áo quần như nêm.
Tác phẩm thứ hai có nhắc đến ngựa là Chinh Phụ Ngâm. vài đoạn thơ liên quan đến ngựa. Nói về nam nhi trong thời chinh chiến:
Chí làm trai đặm nghìn da ngựa
Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao
Giả nhà đeo bức chiến bào
Thét roi cầu vị ào ào gió thu.
Rồi nàng phải tiễn chàng ra trận, cảnh chia ly thật buồn :
Ngoài đầu cầu nước trong như lọc
Đường bên cầu cỏ mọc còn non
Đưa chàng lòng vợi vợi buồn
Bộ khôn bằng ngựa, thủy khôn bằng thuyền.
Ngựa
liên quan trực tiếp đến người chinh phu ở nơi xa xăm, chịu dãi dầu
sương gió, cùng những hiểm nguy của chiến trận, bên mình ngựa:
Hơi gió lạnh người rầu mặt dạn
Giòng nước sâu ngựa nản chân bon.
Ôm yên, gối trống đã chồn
Nằm vùng cát trắng ngủ cồn rêu xanh
Hoặc:
Xông pha gió bãi trăng ngàn
Tên reo đầu ngựa giáo lan mặt thành.
Hay là:
Chàng ruổi ngựa dậm trường mây phủ
Thiếp dạo hài lối cũ rêu xanh.
Tác phẩm Lục Vân Tiên của cụ Nguyễn Đình Chiểu cũng có câu nói về ngựa:
Vân Tiên đầu đội kim khôi
Tay cầm siêu bạc, mình ngồi ngựa ô.
Tác phẩm Cung Oán Ngâm Khúc của Ôn Như Hầu cũng có nhắc xa mã:
Mùi phú quý nhữ làng xa mã
Bã vinh hoa lừa gã công khanh.
Ngựa vốn là loài vật gắn bó với con người. Nó nằm trong Lục Súc Tranh Công, 6 loại gia súc nuôi trong nhà như: ngựa, trâu, bò, dê, chó và heo. Người Á Đông đã thuần hóa thành công 6 loại gia súc này trước tiên. Bởi vậy có truyện Lục Súc Tranh Công, ngựa cũng tự khen mình, vừa kể công đánh Nam dẹp Bắc, giúp không biết bao nhiêu tướng tài, phò trợ xã tắc suốt trong lịch sử:
Ngựa nghe nói tím gan, tím phổi
Liền chạy ra hầm hí vang tai
Ớ này này tao bảo chúng bây
Đố mặt ai dài bằng mặt ngựa...
Tao đã từng đi quán về quê
Đã ghe trận, đánh Nam, dẹp Bắc...
Ngày ngày chầu chực sân rồng
Bữa bữa dựa kề loan giá.
Ông Cao Tổ năm năm thượng mã
Mới dựng nên cơ nghiệp Lưu gia.
Ông Quan Công sáu ải vượt qua
Vì cậy có Thanh Long, Xích Thố...
Các chú được ăn no nằm ngủ
Bởi vì ta cầm cán giữ gìn...
Các chú những nằm trong xó bếp
Tài các người ở chốn quê mùa
Đừng đừng buông lời nói khật khù
Bớt bớt thói chê bai giớn giác …
Trong tục ngữ ca dao
Được đầu voi đòi đầu ngựa: nói về người có lòng tham không đáy
Ngựa chạy có bầy chim bay có bạn: nói lên tinh thần đoàn kết.
Ngựa Hồ gió bấc hay chim Việt ngựa Hồ: Ngựa xứ Hồ mỗi khi gió bấc thì hí, chim nước Việt chọn cành phiá nam mà đậu.
Một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ: Nói về tình đoàn kết
Mã đáo thành công: Câu chúc may mắn, thành công
Ngựa non háu đá: Chỉ những người trẻ tuổi thường có tính cách hung hăng, thiếu chín chắn
Cưỡi ngựa xem hoa, chỉ thời gian ngắn đi qua chưa nhìn hết mọi vấn đề
Ngựa chứng là ngựa hay: nói những người có tài thường có những tật xấu
Ngựa quen đường cũ: Chứng nào tật ấy
Ngưu tầm ngưu mã tầm mã: Chỉ việc những người giống nhau thường tập hợp lại với nhay, tìm đến nhau
Đầu trâu mặt ngựa: Câu này dùng để chỉ những kẻ vô loại, kẻ đại bất lương.
Thẳng như ruột ngựa: Nói về việc không úp mở, thẳng thắn vào đề luôn
Da ngựa bọc thây: Câu này thời xưa dùng để nói về một người lính đã ngã xuống trên chiến trường
Đơn thương, độc mã (một ngựa với một cây thương): Chỉ người một mình chống lại khó khăn, không có sự trợ giúp của ai, giống câu một mình một ngựa
Một lời nói ra bốn ngựa khó tìm (Nhất ngôn ký xuất tứ mã nan truy): Câu này có nghĩa là một lời nói vô ý khi ra khỏi miệng rất khó có thể lấy lại được.
Tế ông mất ngựa: Chỉ trong cái rủi có cái may.
Có mặt nào dài hơn ngựa, trước pháp đình, tội nhân đứng trước vành móng ngựa. …
Rồng chầu ngoài Huế, Ngựa tế Đồng Nai
Trong truyện thần thoại Tây Phương con ngựa cổ nhất là con độc giác là con bạch mã đuôi dài tha thướt như tóc một thiếu nữ, giữa trán mọc một cái sừng (Einhorn) và xoắn như mũi khoan phát ra ánh sáng, thêm con ngựa có cánh bay, các loại truyện thần thọai đã dựng thành phim hoạt hình. Những lăng mộ ở Ai Cập trên những bức phù điêu đều có chạm trổ hình những con ngựa, Tại Viện bảo tàng ở Cairo chưng bày những chiếc xe ngựa của các đời Vua được khai quật hơn 3000 năm. Trước sân các Đình Miếu ở Việt Nam cũng như Trung Hoa thường có tượng đá bằng ngựa…Về Âm nhạc có các nhạc phẩm được nhiều người thích là: Vết thù trên lưng ngựa hoang, Lý Ngựa Ô.
Ở Trung Hoa, có dòng họ Mã lấy theo tên ngựa, trong đó có nhiều người nổi danh như Mã Viện, Mã Đằng, Mã Siêu, Mã Anh Cửu, Mã Gián Sinh, Mã Bé… Ngoài ra thêm nhiều chuyện như „trảm mã trà„ cho ngựa ăn trà chém đầu mổ bụng lấy trà sao chế để uống, hay chuyện cho ngựa bạch lên núi cao tìm cỏ Phương Chi mọc trên đá cho ngựa ăn lúc mặt trời vừa mọc, ăn xong cũng chém đầu mổ bụng lấy bao tử mang về chế thuốc phơi khô trị bệnh, bà Từ Hy Thái Hậu khoản đãi khách quý dùng loại thuốc đó nấu với Long Tu.
Dược thảo mang tên ngựa
Trong
các dược liệu cổ truyền, hai khái niệm ngựa và mã thường được sử dụng
để chỉ tên nhiều vị thuốc có giá trị, thậm chí là tên của nhiều họ cây
thuốc. Xin giới thiệu một số thảo dược chính có liên quan đến hai khái
niệm này.
Mã tiên thảo hay còn gọi là cỏ roi ngựa (Verbena officinalis L.), họ cỏ roi ngựa (Verbenaceae), trông hình dáng giống như cái roi ngựa. Vị thuốc là bộ phận trên mặt đất, thu hái lúc cây sắp ra hoa, phơi khô hoặc sấy khô, với liều 6 - 12g dùng trị các bệnh sốt rét, lỵ, ngứa lở hạ bộ, sưng đau tuyến vú, mụn nhọt, bế kinh, khí hư bạch đới.
Mã kế còn gọi là đại kế (Circus japonicus (DC.) Maxim), họ Cúc (Asteraceae), dùng toàn cây. Vị thuốc có vị ngọt, đắng, tính mát. Trị thổ huyết, máu cam, trĩ ra máu, tiểu tiện ra máu, băng huyết, chấn thương chảy máu. Khi dùng để cầm máu thường được sao đen. Trị băng huyết và kinh nguyệt quá nhiều
Mã xỉ hiện còn gọi là rau sam (Portulaca oleracea L.), họ Rau sam (Portulacaceae), mọc hoang hoặc được trồng để làm thuốc hoặc làm rau ăn. Có thể dùng tươi hoặc khô để trị lỵ trực khuẩn, giun kim, dưới dạng nước sắc 15 - 20g ngày. Dùng ngoài, trị ngứa lở, nước ăn chân, lấy cây tươi rửa sạch, giã nát, chấm vào chỗ bị bệnh, ngày 1 - 2 lần sau khi đã rửa sạch chỗ bị bệnh và lau khô
Mã
đề còn gọi là Xa tiền thảo (Plantago major L.), họ Mã đề
(Plantaginaceae). Hai chữ mã đề là ám chỉ “móng chân của con ngựa”. Mã
đề cho nhiều vị thuốc hay, toàn cây có tác dụng lợi tiểu, lợi mật, chống
viêm loét, trừ đờm, chống ho, chống lỵ...Dùng trị bí tiểu, tiểu vàng,
đỏ, tiểu ra máu, sỏi đường tiết niệu, viêm gan, mật...Từ mã đề có thể
thu được các vị thuốc: bông mã
đề, cụm hoa, hạt mã đề (xa tiền tử) có cùng tác dụng: lợi tiểu, lợi
mật...
Mặt khác, xa tiền tử còn chứa nhiều chất nhầy, có khả năng bao phủ các vết loét, nhất là ở dạ dày, tá tràng. Do vậy, vị thuốc này cũng như tịch chiết lá tươi của nó được dùng để trị viêm loét dạ dày, tá tràng rất tốt
Mã đề nước còn gọi là Trạch tả (Plantago plantago- aquatica L. tên đồng danh Alisma orientalis Sam. Juzep.), họ Trạch tả (Alismataceae). Gọi là mã đề nước vì lá của cây trạch tả trông rất giống với lá của cây mã đề, song cây này lại mọc ở dưới ruộng nước. Y học cổ truyền dùng thân rễ của Trạch tả hàng năm thu hái vào khoảng tháng 4 - 5 để làm thuốc chữa bệnh phù thũng, viêm thận, viêm bể thận, tiểu tiện khó khăn, đái ra máu .
Cá ngựa hay hải mã là tên gọi chung của một chi động vật sống ở đại dương tại các vùng biển nhiệt đới. Cá ngựa có chiều dài 15 cm có loài dài đến 30 cm. Cá ngựa là cá biển thuộc chi Hippocampus và họ Syngnathidae vùng nước nhiệt đới và ôn đới ở khắp nơi trên thế giới. Đông y thường dùng hải mã khô trong những than thuốc nấu uống hay để ngâm rượu uống bổ dương. Khoa học chưa có tài liệu nào cho biết thành phần hóa học tác dụng dược lý?.. Cá ngựa và cá chìa vôi là 2 chi cá đặc biệt ở chỗ con đực "mang thai" và sinh con. Thời gian mang thai từ 2-3 tuần. Nó có vây ngực ở phía trên gần mang và vây lưng nằm phía dưới cơ thể. Một số loài cá ngựa có một phần thân thể trong suốt nên rất khó nhìn thấy.
Năm Quý Tỵ đã qua nhiều biến đổi, hy vọng năm Giáp Ngọ đến “mã đáo thành công“ sẽ đem lại Tự Do, Dân Chủ cho Việt Nam. Không còn bọn „đầu trâu mặt ngựa“ đàn áp đánh đập người dân biểu tình chống Trung cộng xâm chiếm biển đảo tịch thu ghe tàu, đánh đập ngư dân Việt Nam. Kính chúc thân hữu và quý độc giả năm mới bình an, thân tâm an lạc, may mắn và hạnh phúc .
N Q Đ
Đọc thêm
1/ Kim Trọng xuất hiện và gặp mặt Kiều lần đầu, chàng cỡi ngựa:
Tuyết in sắc ngựa câu dòn,
Cỏ pha mùi áo nhuộm non da trời.
Nẻo xa mới tỏ mặt người,
Khách đà xuống ngựa, tới nơi tư tình.
Khi hai chị em Kiều sắp chia tay Kim Trọng, ngựa lại được nhắc đến:
Bóng tà như giục cơn buồn,
Khách đà lên ngựa người còn ghé theo.
Mã Giám Sinh, vội vàng ra đi bằng ngựa:
Đoạn trường thay lúc phân kỳ
Vó câu khấp khểnh, bánh xe gập ghềnh.
Nàng càng thổn thức gan vàng,
Sở Khanh đã rẽ dây cương lối nào!
Thúc Sinh, lúc chia tay cùng Kiều vào một mùa thu để về nhà thăm vợ nhà „Hoạn Thư“ cũng đã ra đi bằng ngựa:
Người lên ngựa, kẻ chia bào,
Rừng phong thu đã nhuộm màu quan san.
Khi Thúc Sinh đã ra đi rồi, có một nhóm ác nhân “đầu trâu mặt ngựa” đến đốt nhà nơi Kiều đang cư ngụ. Trong lúc bất tỉnh vì thuốc mê, Kiều đã bị bắt cóc đem đi bằng ngựa:
Thuốc mê đâu đã tưới vào,
Mơ màng như giấc chiêm-bao biết gì!
Vực ngay lên ngựa tức thì,
Phòng đào, viện sách, bốn bề lửa dong.
Từ Hải người đã giúp Kiều trả oán, báo ân, và đưa Kiều lên chỗ cao sang nhất của cuộc đời Kiều, cũng dùng ngựa. Đó là lẽ dĩ nhiên vì Từ Hải là một võ tướng:
Trông trời, trời bể mênh mang,
Thanh gươm, yên ngựa, lên đàng thẳng dong.
Khi cho quân lính rước Kiều về phủ đường một cách rất long trọng, Từ Hải đã tự mình cỡi ngựa ra ngoài để nghênh đón Kiều:
Kéo cờ lũy, phát súng thành,
Từ công ra ngựa thân nghênh cửa ngoài.
Và gần đến cuối của câu chuyện gian truân đời Kiều, người em trai của Kiều và người tình đầu tiên đã được làm quan Cả hai đã dùng xe ngựa:
Sắm sanh xe ngựa vội vàng,
Hai nhà cùng thuận một đường phó quan.
Thành ngữ “đầu trâu mặt ngựa” để chỉ những người không lương thiện bắt nguồn từ Kiều:
Người nách thước kẻ tay dao
Đầu trâu mặt ngựa ào ào như sôi.
Thành ngữ “làm thân trâu ngựa” để đáp đền ơn sâu cũng ở trong Kiều mà ra:
Tái sinh chưa dứt hương thề
Làm thân trâu ngựa đền nghì trúc mai.
Sưu Tầm_TSNguyen_KHSG Groups
**
Nam Ngo noi chuyen Ngua, moi doc
Ngựa trong Khoa học và Đời sống
(Bức họa của Holmes Sullivan William năm 1877 vẽ nữ Bá tước Godiva (Godgifu) cưỡi đi quanh thành phố Coventry, Anh Quốc năm 1040 để yêu cầu chồng là Bá tước Leofric giảm thuế cho dân)
Ngựa trong danh từ khoa học:
Giới (regnum): Animalia
Ngành (phylum): Chordata
Lớp (class): Mammalia
Bộ (ordo): Perissodactyla
Họ (familia): Equidae
Chi (genus): Equus
Loài (species): E. caballus
Chủng tộc ngựa có bốn nhóm: thoroughbred/Vollblut (giống ngựa nầy ở Á Rãp và Anh Quốc); warmblood/Warmblut; draft horse/ Kaltblut; ponies /Ponys. Mỗi nhóm, chi có đời sống tập tính khác nhau như: Ngựa vằn núi Bergzebras (Epuus Zebra), ngựa Quagga (Epuus quagga), ngựa Onager (Epuus hemionus) thuộc loại nửa ngựa nửa lừa) ngựa Przewalskipferd (Epuus Przewalskii) ngựa Steppentarpan (Epuus przewalskii igmelini) ngựa Waldtarpan (Epuus Przewalskì silvaticus) ngựa Westpferd (Epuus przewalskii robustus); ngựa ở Phi Châu Wildesel (Epuus asinus africanus); ngựa ở bắc Phi Châu Wildesel (Epuus asinus atlanticus)….Tùy thuộc vào giống môi trường, thức ăn, nước uống v.v, ngựa có tuổi thọ khoảng 25 đến 30 năm. Ngựa cái mang thai kéo dài khoảng 335-340 ngày. Ngựa con vừa lọt lòng mẹ có thể đứng và đi ngay. Ngựa bốn tuổi được coi là ngựa trưởng thành, mặc dù chúng tiếp tục phát triển bình thường cho đến sáu tuổi, thời gian hoàn thành sự phát triển của ngựa cũng phụ thuộc vào kích cỡ của ngựa, giống, giới tính.Có loại ngựa dài 2.80m cao 1,5m…..Ngựa ăn cỏ, dạ dày ngựa chỉ có một túi và không thuộc bộ nhai lại như trâu bò, răng ngựa tốt, ăn và nghiền nhỏ thức ăn, ngựa đực có 40 cái răng, ngựa cái chỉ có 36 cái. Uống nước mỗi ngày từ 30-60 lít nước. Tai ngựa rất thính, nhãn quan của ngựa rộng nhưng chỉ thấy rỏ về phía trước hơn, khuyết điểm không nhìn rõ hai bên, nên hay hoảng sợ khi nhìn thấy các di động hai bên, bởi vậy người ta dùng hai miếng da che hai bên mắt để ngựa kéo xe chỉ nhìn thấy phía trước. Ngựa có nhiều màu như lông màu trắng gọi là ngựa bạch, đen tuyền gọi là ngựa ô, đen pha đỏ tươi là ngựa vang, đen pha đỏ đậm là ngựa hồng, tím đỏ pha đen là ngựa tía, trắng sọc đen là ngựa vằn... Về cách đi đứng của ngựa có nhiều động từ để diễn tả như: đi, bước, rảo, chạy, nhảy, kiệu, phóng, vút, phi (bay), tế, sải, lao, vọt, phốc, phi nước đại, phi nước kiệu, phi rạp mình, ngựa lồng: ngựa chạy trung bình mỗi giờ từ 40-50 km, nhưng có thể chạy nhanh đến 90 km/ giờ. Người ta lấy sức ngựa (mã lực) làm tiêu chuẩn tính sức mạnh của động cơ Kilowatt (1 PS=75 mkp/S; hay 1 PS= 0,735498 KW).
Chân ngựa cũng có nhiều ngón, nhưng chỉ có một ngón giữa phát triển to ra, trên đầu ngón có một cái móng bằng chất sừng bao bọc ở mặt ngoài của móng ngựa, chất sừng rất dày cứng, nó gắn chặt với xương ngón chân, nhưng phần phía trong của móng là chất sừng mềm có tính đàn hồi co giãn được, nó có tác dụng làm giảm xung lực từ mặt đất khi ngựa bước đi. Vì móng ngựa là chất sừng cứng, khi ngựa đi lại trên đất, đá lâu ngày, lớp sừng bảo vệ bên ngoài sẽ bị mòn đến lớp sừng mềm bên trong. Ngựa bị đau chân không thể chạy nhảy kéo xe được Vì thế người ta đóng móng cho ngựa để bảo vệ cho móng không bị mòn. Có thợ chuyên môn rèn sắt đo ni lấy một cái vành bằng sắt có đục lỗ sẵn đóng móng cho ngựa, đã được sáng chế từ thời La Mã cổ đại.
Ngựa trong chiến tranh được gọi là Ngựa chiến hay chiến mã.
Việc sử dụng chiến thuật ổn định từ ngựa chiến được đóng yên cương và bàn đạp chân đã cho phép người Mông Cổ có thể tấn công và bắn tên hiệu quả từ trên lưng ngựa (nhất là các kỵ xạ), đồng thời đem đến cho họ sự linh động để chinh phục phần lớn các vùng đất đã biết đến trên thế giới. Thành Cát Tư Hãn/Genghis Khan phiên âm Hán: 成吉思汗 (trị vì 1206-1227) là người sáng lập ra Đế quốc Mông Cổ. Vó ngựa quân Mông Cổ tung hoành khắp nơi, nhờ giống ngựa Mông Cổ với vóc dáng có phần nhỏ hơn, chân ngắn hơn, bờm và đuôi rậm hơn, song chúng ít đòi hỏi chăm sóc, sức chịu đựng tốt, đặc biệt thích nghi tốt với khí hậu cận nhiệt đới. Quân Mông Cổ đã bành trướng xuống phía Nam, ngựa Mông Cổ có thể nói là phương tiện duy nhất để di chuyển đại quân từ Á sang Âu. Vó ngựa Mông Cổ đi đến đâu thì cỏ không mọc được, đến đâu thì bình địa đến đó, máu chảy đầu rơi, xơ xác. Nhưng đến Việt Nam bị Hưng Đạo Vương đánh thua chạy dài về nước.
Theo truyền thuyết Đời Hùng Vương thứ Sáu nổi tiếng và đặc sắc nhất về ngựa là hình ảnh ngựa thần của Thánh Gióng, cậu bé làng Phù Đổng đã vươn vai thành người lớn cưỡi ngựa sắt, cầm roi sắt ra trận dẹp tan giặc Ân. Hình ảnh Thánh Gióng cưỡi ngựa thần bay lên trời tượng trưng cho sự tự do, bất khuất, lòng dũng cảm, ý chí kiên cường. Tại ngã sáu ở Sài Gòn còn tượng tưởng nhớ Phù Đổng Thiên Vương.
Ngựa trong đời sống bình dân
Ngựa là gia súc đóng góp to lớn trong việc mưu sinh và sự phát triển của con người. ngựa đối với người phương Đông còn là biểu tượng của lòng trung thành, sự kiên trì, nhẫn nại và cần mẫn. Trong thời bình ngựa giúp chúng ta cày bừa, chuyên chở hàng hóa, kéo xe, chở người di chuyển trên đường xa, những nơi hiểm trở. Ngoài ra ngựa là phương tiện di chuyển nhanh nhất thời xưa trong vấn đề liên lạc thư tín, công văn …và tạo những niềm vui cho công chúng như đua ngựa, đi săn, cưỡi ngựa thi bắn tên, làm xiếc thú. Ngựa còn cho ta thịt để ăn và cúng tế, xương nấu cao ngựa làm thuốc, giúp các nhà y học chế ra các loại huyết thanh trị bệnh, huyết thanh chống nọc rắn. Viện Pasteur Nha Trang thành lập từ năm 1895, đến năm 1896 bác sĩ Yersin đã lên vùng Suối Dầu, thành lập một trang trại chăn nuôi ngựa lấy huyết thanh bào chế vacxin phòng chống bệnh dịch hạch. Và cũng từ trại ngựa này, Yersin đã sáng chế ra những loại huyết thanh cổ điển khác như kháng huyết thanh bạch hầu, uốn ván. Cho đến nay, với hơn 100 năm tồn tại và phát triển, trại chăn nuôi vùng Suối Dầu đã trở thành một trung tâm sản xuất vacxin lớn trong khu vực, với số lượng thú nuôi phục vụ nghiên cứu khoa học đứng đầu trong cả nước gồm ngựa, thỏ, chuột lang, chuột bạch.
Tiếp bước theo công trình của bác sĩ Yersin, tập thể các cán bộ ở trại chăn nuôi Suối Dầu đã bào chế ra những kháng huyết thanh mới từ ngựa như kháng huyết thanh trị rạ, trị nọc độc rắn cắn, mới đây nhất là nghiên cứu phát triển loại kháng huyết thanh chữa ngộ độc cá nóc cho ngư dân, theo tinh thần mà ngày xưa bác sĩ Yersin đã đề xướng: nghiên cứu và phục vụ đời sống.
Nhiều giống ngựa đã tuyệt chủng, nhưng nhiều giống ngựa khác được lai giống to lớn có lông mai và đuôi dài rất đẹp, hàng năm lễ hội Beer Tháng Mười ở Munich nhiều ngựa to lớn kéo xe rất đẹp
Ngựa trong văn chương
Trong đoạn thơ tả cảnh chị em Thuý Kiều, Thuý Vân đi lễ hội Thanh minh:
Dập diều tài tử giai nhân,
Ngựa xe như nước, áo quần như nêm.
Tác phẩm thứ hai có nhắc đến ngựa là Chinh Phụ Ngâm. vài đoạn thơ liên quan đến ngựa. Nói về nam nhi trong thời chinh chiến:
Chí làm trai đặm nghìn da ngựa
Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao
Giả nhà đeo bức chiến bào
Thét roi cầu vị ào ào gió thu.
Rồi nàng phải tiễn chàng ra trận, cảnh chia ly thật buồn :
Ngoài đầu cầu nước trong như lọc
Đường bên cầu cỏ mọc còn non
Đưa chàng lòng vợi vợi buồn
Bộ khôn bằng ngựa, thủy khôn bằng thuyền.
Hơi gió lạnh người rầu mặt dạn
Giòng nước sâu ngựa nản chân bon.
Ôm yên, gối trống đã chồn
Nằm vùng cát trắng ngủ cồn rêu xanh
Hoặc:
Xông pha gió bãi trăng ngàn
Tên reo đầu ngựa giáo lan mặt thành.
Hay là:
Chàng ruổi ngựa dậm trường mây phủ
Thiếp dạo hài lối cũ rêu xanh.
Tác phẩm Lục Vân Tiên của cụ Nguyễn Đình Chiểu cũng có câu nói về ngựa:
Vân Tiên đầu đội kim khôi
Tay cầm siêu bạc, mình ngồi ngựa ô.
Tác phẩm Cung Oán Ngâm Khúc của Ôn Như Hầu cũng có nhắc xa mã:
Mùi phú quý nhữ làng xa mã
Bã vinh hoa lừa gã công khanh.
Ngựa vốn là loài vật gắn bó với con người. Nó nằm trong Lục Súc Tranh Công, 6 loại gia súc nuôi trong nhà như: ngựa, trâu, bò, dê, chó và heo. Người Á Đông đã thuần hóa thành công 6 loại gia súc này trước tiên. Bởi vậy có truyện Lục Súc Tranh Công, ngựa cũng tự khen mình, vừa kể công đánh Nam dẹp Bắc, giúp không biết bao nhiêu tướng tài, phò trợ xã tắc suốt trong lịch sử:
Ngựa nghe nói tím gan, tím phổi
Liền chạy ra hầm hí vang tai
Ớ này này tao bảo chúng bây
Đố mặt ai dài bằng mặt ngựa...
Tao đã từng đi quán về quê
Đã ghe trận, đánh Nam, dẹp Bắc...
Ngày ngày chầu chực sân rồng
Bữa bữa dựa kề loan giá.
Ông Cao Tổ năm năm thượng mã
Mới dựng nên cơ nghiệp Lưu gia.
Ông Quan Công sáu ải vượt qua
Vì cậy có Thanh Long, Xích Thố...
Các chú được ăn no nằm ngủ
Bởi vì ta cầm cán giữ gìn...
Các chú những nằm trong xó bếp
Tài các người ở chốn quê mùa
Đừng đừng buông lời nói khật khù
Bớt bớt thói chê bai giớn giác …
Trong tục ngữ ca dao
Được đầu voi đòi đầu ngựa: nói về người có lòng tham không đáy
Ngựa chạy có bầy chim bay có bạn: nói lên tinh thần đoàn kết.
Ngựa Hồ gió bấc hay chim Việt ngựa Hồ: Ngựa xứ Hồ mỗi khi gió bấc thì hí, chim nước Việt chọn cành phiá nam mà đậu.
Một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ: Nói về tình đoàn kết
Mã đáo thành công: Câu chúc may mắn, thành công
Ngựa non háu đá: Chỉ những người trẻ tuổi thường có tính cách hung hăng, thiếu chín chắn
Cưỡi ngựa xem hoa, chỉ thời gian ngắn đi qua chưa nhìn hết mọi vấn đề
Ngựa chứng là ngựa hay: nói những người có tài thường có những tật xấu
Ngựa quen đường cũ: Chứng nào tật ấy
Ngưu tầm ngưu mã tầm mã: Chỉ việc những người giống nhau thường tập hợp lại với nhay, tìm đến nhau
Đầu trâu mặt ngựa: Câu này dùng để chỉ những kẻ vô loại, kẻ đại bất lương.
Thẳng như ruột ngựa: Nói về việc không úp mở, thẳng thắn vào đề luôn
Da ngựa bọc thây: Câu này thời xưa dùng để nói về một người lính đã ngã xuống trên chiến trường
Đơn thương, độc mã (một ngựa với một cây thương): Chỉ người một mình chống lại khó khăn, không có sự trợ giúp của ai, giống câu một mình một ngựa
Một lời nói ra bốn ngựa khó tìm (Nhất ngôn ký xuất tứ mã nan truy): Câu này có nghĩa là một lời nói vô ý khi ra khỏi miệng rất khó có thể lấy lại được.
Tế ông mất ngựa: Chỉ trong cái rủi có cái may.
Có mặt nào dài hơn ngựa, trước pháp đình, tội nhân đứng trước vành móng ngựa. …
Rồng chầu ngoài Huế, Ngựa tế Đồng Nai
Trong truyện thần thoại Tây Phương con ngựa cổ nhất là con độc giác là con bạch mã đuôi dài tha thướt như tóc một thiếu nữ, giữa trán mọc một cái sừng (Einhorn) và xoắn như mũi khoan phát ra ánh sáng, thêm con ngựa có cánh bay, các loại truyện thần thọai đã dựng thành phim hoạt hình. Những lăng mộ ở Ai Cập trên những bức phù điêu đều có chạm trổ hình những con ngựa, Tại Viện bảo tàng ở Cairo chưng bày những chiếc xe ngựa của các đời Vua được khai quật hơn 3000 năm. Trước sân các Đình Miếu ở Việt Nam cũng như Trung Hoa thường có tượng đá bằng ngựa…Về Âm nhạc có các nhạc phẩm được nhiều người thích là: Vết thù trên lưng ngựa hoang, Lý Ngựa Ô.
Ở Trung Hoa, có dòng họ Mã lấy theo tên ngựa, trong đó có nhiều người nổi danh như Mã Viện, Mã Đằng, Mã Siêu, Mã Anh Cửu, Mã Gián Sinh, Mã Bé… Ngoài ra thêm nhiều chuyện như „trảm mã trà„ cho ngựa ăn trà chém đầu mổ bụng lấy trà sao chế để uống, hay chuyện cho ngựa bạch lên núi cao tìm cỏ Phương Chi mọc trên đá cho ngựa ăn lúc mặt trời vừa mọc, ăn xong cũng chém đầu mổ bụng lấy bao tử mang về chế thuốc phơi khô trị bệnh, bà Từ Hy Thái Hậu khoản đãi khách quý dùng loại thuốc đó nấu với Long Tu.
Dược thảo mang tên ngựa
Mã tiên thảo hay còn gọi là cỏ roi ngựa (Verbena officinalis L.), họ cỏ roi ngựa (Verbenaceae), trông hình dáng giống như cái roi ngựa. Vị thuốc là bộ phận trên mặt đất, thu hái lúc cây sắp ra hoa, phơi khô hoặc sấy khô, với liều 6 - 12g dùng trị các bệnh sốt rét, lỵ, ngứa lở hạ bộ, sưng đau tuyến vú, mụn nhọt, bế kinh, khí hư bạch đới.
Mã kế còn gọi là đại kế (Circus japonicus (DC.) Maxim), họ Cúc (Asteraceae), dùng toàn cây. Vị thuốc có vị ngọt, đắng, tính mát. Trị thổ huyết, máu cam, trĩ ra máu, tiểu tiện ra máu, băng huyết, chấn thương chảy máu. Khi dùng để cầm máu thường được sao đen. Trị băng huyết và kinh nguyệt quá nhiều
Mã xỉ hiện còn gọi là rau sam (Portulaca oleracea L.), họ Rau sam (Portulacaceae), mọc hoang hoặc được trồng để làm thuốc hoặc làm rau ăn. Có thể dùng tươi hoặc khô để trị lỵ trực khuẩn, giun kim, dưới dạng nước sắc 15 - 20g ngày. Dùng ngoài, trị ngứa lở, nước ăn chân, lấy cây tươi rửa sạch, giã nát, chấm vào chỗ bị bệnh, ngày 1 - 2 lần sau khi đã rửa sạch chỗ bị bệnh và lau khô
Mặt khác, xa tiền tử còn chứa nhiều chất nhầy, có khả năng bao phủ các vết loét, nhất là ở dạ dày, tá tràng. Do vậy, vị thuốc này cũng như tịch chiết lá tươi của nó được dùng để trị viêm loét dạ dày, tá tràng rất tốt
Mã đề nước còn gọi là Trạch tả (Plantago plantago- aquatica L. tên đồng danh Alisma orientalis Sam. Juzep.), họ Trạch tả (Alismataceae). Gọi là mã đề nước vì lá của cây trạch tả trông rất giống với lá của cây mã đề, song cây này lại mọc ở dưới ruộng nước. Y học cổ truyền dùng thân rễ của Trạch tả hàng năm thu hái vào khoảng tháng 4 - 5 để làm thuốc chữa bệnh phù thũng, viêm thận, viêm bể thận, tiểu tiện khó khăn, đái ra máu .
Cá ngựa hay hải mã là tên gọi chung của một chi động vật sống ở đại dương tại các vùng biển nhiệt đới. Cá ngựa có chiều dài 15 cm có loài dài đến 30 cm. Cá ngựa là cá biển thuộc chi Hippocampus và họ Syngnathidae vùng nước nhiệt đới và ôn đới ở khắp nơi trên thế giới. Đông y thường dùng hải mã khô trong những than thuốc nấu uống hay để ngâm rượu uống bổ dương. Khoa học chưa có tài liệu nào cho biết thành phần hóa học tác dụng dược lý?.. Cá ngựa và cá chìa vôi là 2 chi cá đặc biệt ở chỗ con đực "mang thai" và sinh con. Thời gian mang thai từ 2-3 tuần. Nó có vây ngực ở phía trên gần mang và vây lưng nằm phía dưới cơ thể. Một số loài cá ngựa có một phần thân thể trong suốt nên rất khó nhìn thấy.
Năm Quý Tỵ đã qua nhiều biến đổi, hy vọng năm Giáp Ngọ đến “mã đáo thành công“ sẽ đem lại Tự Do, Dân Chủ cho Việt Nam. Không còn bọn „đầu trâu mặt ngựa“ đàn áp đánh đập người dân biểu tình chống Trung cộng xâm chiếm biển đảo tịch thu ghe tàu, đánh đập ngư dân Việt Nam. Kính chúc thân hữu và quý độc giả năm mới bình an, thân tâm an lạc, may mắn và hạnh phúc .
N Q Đ
Đọc thêm
1/ Kim Trọng xuất hiện và gặp mặt Kiều lần đầu, chàng cỡi ngựa:
Tuyết in sắc ngựa câu dòn,
Cỏ pha mùi áo nhuộm non da trời.
Nẻo xa mới tỏ mặt người,
Khách đà xuống ngựa, tới nơi tư tình.
Khi hai chị em Kiều sắp chia tay Kim Trọng, ngựa lại được nhắc đến:
Bóng tà như giục cơn buồn,
Khách đà lên ngựa người còn ghé theo.
Mã Giám Sinh, vội vàng ra đi bằng ngựa:
Đoạn trường thay lúc phân kỳ
Vó câu khấp khểnh, bánh xe gập ghềnh.
Nàng càng thổn thức gan vàng,
Sở Khanh đã rẽ dây cương lối nào!
Thúc Sinh, lúc chia tay cùng Kiều vào một mùa thu để về nhà thăm vợ nhà „Hoạn Thư“ cũng đã ra đi bằng ngựa:
Người lên ngựa, kẻ chia bào,
Rừng phong thu đã nhuộm màu quan san.
Khi Thúc Sinh đã ra đi rồi, có một nhóm ác nhân “đầu trâu mặt ngựa” đến đốt nhà nơi Kiều đang cư ngụ. Trong lúc bất tỉnh vì thuốc mê, Kiều đã bị bắt cóc đem đi bằng ngựa:
Thuốc mê đâu đã tưới vào,
Mơ màng như giấc chiêm-bao biết gì!
Vực ngay lên ngựa tức thì,
Phòng đào, viện sách, bốn bề lửa dong.
Từ Hải người đã giúp Kiều trả oán, báo ân, và đưa Kiều lên chỗ cao sang nhất của cuộc đời Kiều, cũng dùng ngựa. Đó là lẽ dĩ nhiên vì Từ Hải là một võ tướng:
Trông trời, trời bể mênh mang,
Thanh gươm, yên ngựa, lên đàng thẳng dong.
Khi cho quân lính rước Kiều về phủ đường một cách rất long trọng, Từ Hải đã tự mình cỡi ngựa ra ngoài để nghênh đón Kiều:
Kéo cờ lũy, phát súng thành,
Từ công ra ngựa thân nghênh cửa ngoài.
Và gần đến cuối của câu chuyện gian truân đời Kiều, người em trai của Kiều và người tình đầu tiên đã được làm quan Cả hai đã dùng xe ngựa:
Sắm sanh xe ngựa vội vàng,
Hai nhà cùng thuận một đường phó quan.
Thành ngữ “đầu trâu mặt ngựa” để chỉ những người không lương thiện bắt nguồn từ Kiều:
Người nách thước kẻ tay dao
Đầu trâu mặt ngựa ào ào như sôi.
Thành ngữ “làm thân trâu ngựa” để đáp đền ơn sâu cũng ở trong Kiều mà ra:
Tái sinh chưa dứt hương thề
Làm thân trâu ngựa đền nghì trúc mai.

Thứ Năm, 2 tháng 1, 2014
Nhạc Huỳnh Anh - Nhạc Hoa Sơn-Lê Minh Luân - Thơ_XUÂN ẤY, MÙA XUÂN ...
Xin gửi quý AC xem mấy bài hát may mắn được captured trong show tối qua (12/30/2013) của Phượng Hoàng band tại Phoenix ART Center in San Jose.
Điều giản dị
Let's fall in love
Medley Trần Tiến
Mưa Sài Gòn Mưa Hà Nội
(acoustic version)
Reflections of my life & San Francisco
Something & Don't Let Me Down
Yêu Mãi mùa giá băng
One good thing about music, when it hits you, you feel no pain.
XUÂN ẤY, MÙA XUÂN ...
Xuân trước anh theo mẹ đến nhà
Anh mười tám tuổi, bé mười ba
Gặp anh, bé gắt : nhìn chi vậy ?
Nheo mắt anh cười : Dữ qúa ta !
Rồi lại mùa xuân, anh đến thăm
Mùa xuân sau nữa, bé, trăng rằm
Món quà mừng tuổi, anh cho bé
Một gói ô mai, một lược trầm
Anh bảo ô mai tặng bé đây
Bé ăn cho ngọt tuổi trăng đầy
Cho môi thêm đậm màu lưu luyến
Và để cho lòng biết đắm say
Lược chải cho thêm tóc bé dài
Dài thêm chút nữa, chảy lên vai ...
Để khi hương tóc lừng trong gió
Gió quyện hương trầm trao đến ai
Bé đã hồn nhiên nhận món quà
Ô mai, lược quí của người ta
Nhưng lòng thơ ấy không hề gợn
Một thoáng suy tư để biết là....
Cho đến hè kia phượng nở hồng
Quân trường, anh đáp tiếng non sông
Vắng anh, nắng bỗng xanh màu nhớ
Và nắng xanh kia nhuộm biếc lòng
Khi tiễn anh ra trấn tuyến đầu
Ô mai vừa hết, nhớ vừa sâu
Hương nồng vị mặn còn lưu lại
Lòng chợt tơ vương một ý sầu
Xuân ấy, mùa xuân tóc bé dài
Dài như anh nói, "chảy lên vai "
Lược trầm bé chải cho hương tóc
Theo gió bay về nơi có ai ....
Anh mười tám tuổi, bé mười ba
Gặp anh, bé gắt : nhìn chi vậy ?
Nheo mắt anh cười : Dữ qúa ta !
Rồi lại mùa xuân, anh đến thăm
Mùa xuân sau nữa, bé, trăng rằm
Món quà mừng tuổi, anh cho bé
Một gói ô mai, một lược trầm
Anh bảo ô mai tặng bé đây
Bé ăn cho ngọt tuổi trăng đầy
Cho môi thêm đậm màu lưu luyến
Và để cho lòng biết đắm say
Lược chải cho thêm tóc bé dài
Dài thêm chút nữa, chảy lên vai ...
Để khi hương tóc lừng trong gió
Gió quyện hương trầm trao đến ai
Bé đã hồn nhiên nhận món quà
Ô mai, lược quí của người ta
Nhưng lòng thơ ấy không hề gợn
Một thoáng suy tư để biết là....
Cho đến hè kia phượng nở hồng
Quân trường, anh đáp tiếng non sông
Vắng anh, nắng bỗng xanh màu nhớ
Và nắng xanh kia nhuộm biếc lòng
Khi tiễn anh ra trấn tuyến đầu
Ô mai vừa hết, nhớ vừa sâu
Hương nồng vị mặn còn lưu lại
Lòng chợt tơ vương một ý sầu
Xuân ấy, mùa xuân tóc bé dài
Dài như anh nói, "chảy lên vai "
Lược trầm bé chải cho hương tóc
Theo gió bay về nơi có ai ....
Song Châu Diễm Ngọc Nhân
Thứ Năm, 31 tháng 10, 2013
Mơ Bước Tình Xa_PTMH - Ảnh Thu và Chim_Nguyễn Sơn - Thơ Nguyễn Sỹ Đại
Nguyễn Sơn

Mơ Bước Tình Xa
Con chim bé nhỏ co ro,
Trời cao đất rộng mênh mông,
Này con Chim nhỏ, nắng hồng ở đâu
Thu về sắc lá phai màu
Tìm đâu thoáng mộng tình sầu xa xôi,
Chiều thu gió thổi chơi vơi,
Sương mờ phủ kín nương đồi quạnh hiu,
Heo may rụng lá ban chiều
Tả tơi cây đã tiêu điều cành khô
Nhớ ai lóng ngóng mong chờ
Vàng bay gió cuốn vật vờ nẻo xa
Ước mơ một khúc xuân ca,
Tình xa trở lại bến bờ mộng xưa ...
Con chim nhỏ hết bơ vơ
Bình minh ríu rít, tình thơ mặn nồng,
Thu về nhẹ bước thong dong,
Yêu Thu, yêu cả lạnh lùng gió thu.
Phạm Thị Minh-Hưng..

khi xem ảnh Thu và Chim để cảm tác viết bài thơ này,
Thương quá, con chim bé bỏng cô đơn trong cảnh chiều Thu buồn...
Trân trọng và Kính mến,
Trân trọng và Kính mến,
Phạm Thị Minh-Hưng
**
TA TRẢ CHO EM MƯỜI SÁU TUỔI
Nguyễn Sỹ Đại
Ta trả cho em mười sáu tuổi
Nơi đám mây như trang giấy học trò
Dòng mực biếc trôi xanh màu viễn xứ
Khung trời nào cũng nở mấy ngàn hoa
Ta trả cho em mười sáu tuổi
Môi bâng khuâng khi nhớ một tên người
Mùa xuân ngọt, mùa đông cũng ngọt
Khi một mình thì gọi ánh mắt ơi !
Ta trả cho em mười sáu tuổi
Ta thề buông một cánh buồm xa
Nghĩ về bạn thấy mình như có lỗi
Cánh hoa rơi thấp thỏm trước hiên nhà…
Ta trả cho em mười sáu tuổi
Những gì xưa hóa chật chội mất rồi
Ta trả cho em mườI sáu tuổi
Bàn chân đi xê xích cả chân trời !
Ta trả cho em mười sáu tuổi
Xếp hành trang kỷ niệm chỉ chất đầy
Làng với phố, bạn xưa, trường lớp cũ
Tuổi thơ ghì ấm áp một vòng tay !
Nào ai biết sau miền hai mươi tuổi
Bước vào đời đâu cũng gặp phục binh
Mong cái chết như một điều cứu rỗi
Trời pha lê hát vỡ dưới chân mình
Thì đây em, ta trả lại vòm xanh
Gìn giữ được sau rất nhiều bão tố
Ta trả cho em những đường chiều hoa đỏ
Rơi như mưa trên áo trắng học trò
Ta trả cho em một tuổi mùa thu
Hương cốm mới, lá sen lần thứ nhất
Trả mười ngón tay thưa lùa mái tóc
Soi mắt nhìn, lấp lánh ánh sao đêm
Ta trả cho em chiếc lá non mềm
Môi run rẩy những điều không thể nói
Ta trả cho em cả những điều nông nổi
Hương thời gian mà giữ ngực căng đầy
Ta trả cho em mùa hạ của nồng say
Triền sông ngát, Trương Chi chiều đứng hát
Ngàn sao cháy làm sao mà chịu được
Ước ao đành khóc lẫn với mưa ngâu !
Ta trả cho em cả sợi bạc trên đầu
Chờ đợi mãi, bao nhiêu là nước chảy
Còn tất cả khi em vừa kịp tới
Tan hết vào mười sáu tuổi, vầng trăng…
**
TA TRẢ CHO EM MƯỜI SÁU TUỔI
Nguyễn Sỹ Đại
Ta trả cho em mười sáu tuổi
Nơi đám mây như trang giấy học trò
Dòng mực biếc trôi xanh màu viễn xứ
Khung trời nào cũng nở mấy ngàn hoa
Ta trả cho em mười sáu tuổi
Môi bâng khuâng khi nhớ một tên người
Mùa xuân ngọt, mùa đông cũng ngọt
Khi một mình thì gọi ánh mắt ơi !
Ta trả cho em mười sáu tuổi
Ta thề buông một cánh buồm xa
Nghĩ về bạn thấy mình như có lỗi
Cánh hoa rơi thấp thỏm trước hiên nhà…
Ta trả cho em mười sáu tuổi
Những gì xưa hóa chật chội mất rồi
Ta trả cho em mườI sáu tuổi
Bàn chân đi xê xích cả chân trời !
Ta trả cho em mười sáu tuổi
Xếp hành trang kỷ niệm chỉ chất đầy
Làng với phố, bạn xưa, trường lớp cũ
Tuổi thơ ghì ấm áp một vòng tay !
Nào ai biết sau miền hai mươi tuổi
Bước vào đời đâu cũng gặp phục binh
Mong cái chết như một điều cứu rỗi
Trời pha lê hát vỡ dưới chân mình
Thì đây em, ta trả lại vòm xanh
Gìn giữ được sau rất nhiều bão tố
Ta trả cho em những đường chiều hoa đỏ
Rơi như mưa trên áo trắng học trò
Ta trả cho em một tuổi mùa thu
Hương cốm mới, lá sen lần thứ nhất
Trả mười ngón tay thưa lùa mái tóc
Soi mắt nhìn, lấp lánh ánh sao đêm
Ta trả cho em chiếc lá non mềm
Môi run rẩy những điều không thể nói
Ta trả cho em cả những điều nông nổi
Hương thời gian mà giữ ngực căng đầy
Ta trả cho em mùa hạ của nồng say
Triền sông ngát, Trương Chi chiều đứng hát
Ngàn sao cháy làm sao mà chịu được
Ước ao đành khóc lẫn với mưa ngâu !
Ta trả cho em cả sợi bạc trên đầu
Chờ đợi mãi, bao nhiêu là nước chảy
Còn tất cả khi em vừa kịp tới
Tan hết vào mười sáu tuổi, vầng trăng…
Chủ Nhật, 6 tháng 10, 2013
Một nơi cho cuối đời_Phan Hạnh - Rừng Chiều Khoác Áo_Kiều CL
Một Nơi Cho Cuối Đời
(ảnh minh họa)
Truyện ngắn Phan Hạnh
Ông ngồi ngoài trời nắng, đắp hờ một cái chăn mỏng, tư lự. Mười
ngón tay ông thò ra, gầy guộc như mười vật lạ muốn cùng ông phơi nắng.
Ông hy vọng mặt trời hôm nay sẽ ở lại với ông lâu hơn một chút. Ông nói
thầm và biết chắc chắn là mặt trời sẽ còn ở chơi với ông ít ra cho đến
bốn giờ chiều. Đến chừng đó, nó sẽ bị bóng cây dưới sân thượng che
khuất.
Ông nhìn quanh khu nhà, rồi nghĩ, - một ý nghĩ chẳng giúp ích được gì - “Thật là ác! Xây nhà theo cái kiểu gì mà cái nhà của người này đổ bóng che lên cái nhà của người kia. Ủa, mà cuộc sống của con người cũng y như vậy thôi, đời của người này đè lên đời người khác.”
Toàn bộ bờ biển thoai thoải này từng là một vùng thiên nhiên hoang dã chưa khai thác với những cây to lớn xum xuê cành lá. Những bụi cây xương rồng với cánh hoa lớn và những cây lưỡi rắn thân dầy như vòi voi mang vẻ lạc lõng rầu rĩ giữa khu nhà kiến trúc chen chúc. Sân thượng được o bế kỹ và tỉ mỉ hơn. Vợ ông đã kêu người trồng hoa phong lữ trong những cái hộp gỗ đặt dọc theo bờ tường. Ông thì chẳng mặn mà gì với hoa kiểng.
Từ ghế dựa có lót nệm êm, ông dễ dàng vói bàn tay năm ngón xương xẩu sờ nắn cọng cây hoa phong lữ khô héo vì thiếu nước tưới. Gió nóng Phan Thiết làm phồng rộp mớ cây kiểng này một cách thảm hại. Chẳng biết làm gì và hơi bực mình, ông tiện tay ngắt những cái lá, bông héo và vứt xuống đất. Không thể vói tay xa hơn để ngắt những cây khác, ông buông mình nằm xuống, kiệt sức như một chiếc ghe chìm; thân người gầy mỏng cong vòng của ông ép lên mặt nệm, trông như cánh cung căng sắp bắn tên. Ông quyết đoán một cách điên khùng với ý nghĩ “Đám hoa phong lữ này che khuất ánh nắng mặt trời quý báu của tôi đây mà!”
Và, bất kể khu vườn với đám cây cối làm cảnh mà ông cho là giả tạo và chẳng đẹp đẽ gì, ông nhất định nằm đây tắm nắng và hưởng những giọt nắng cuối cùng cho đến khi mặt trời lặn khuất. Ông đã nhắm mắt lại nằm thẳng và nhìn bằng hố đen sâu thẳm của lớp da mí mắt. Ngay cả ở đây, ở miền duyên hải Việt Nam ấm áp đầy ánh mặt trời, xa vời, hình ảnh mỏ than đá ở tận miền bắc xứ Canada lạnh giá vẫn còn hiển hiện.
Hốc mũi của ông đã chán ngán cái mùi than đá và cảm giác hai má mình còn rin rít lớp sương mù trơn nhớt. Mặc dù đã từ giã nghề làm thợ hầm mỏ mười mấy năm nay sau hai mươi năm đeo đuổi, nhưng ông không thể quên tháng ngày làm lụng vất vả vì đồng lương hậu hĩ ấy. Đối với ông, dường như mười mấy năm nhàn hạ vừa qua đi quá nhanh đến mức như ông chỉ mới rời công việc mỏ than tháng trước. Giờ đây, ông ngồi dưới ánh nắng mặt trời với đôi mắt nhắm nghiền, nhìn vào chiều sâu như bất tận của hai mươi năm lầm than đó. Lầm vì đã chọn làm việc ở mỏ than nên bây giờ nằm than thở. Ông nghĩ, có lẽ bụi than đen sì đã trở thành một con số bách phân nào đó trong máu của mình, đã gây ô nhiễm thể chất và tinh thần nên giờ ông mới lâm vào trạng thái trống rỗng u tối như thế này. Nó làm ông luôn cảm thấy thèm khát không khí trong lành, gió biển thoáng mát và nhất là ánh nắng mặt trời. Cũng chẳng đáng trách, vì coi như đời ông đã tàn phế rồi với căn bệnh gọi là hội chứng mệt mỏi triền miên, mệt mỏi tinh thần lẫn thể xác.
Ông vẫn nằm đó, tuy đôi mí mắt đóng lại nhưng đôi ngươi vẫn như nhìn thẳng vào hầm mỏ than hun hút sâu. Trong cõi tối tăm ấy, rõ ràng ông nhìn thấy những ngày đầu đến Canada. Ông đã háo hức dùng tay không vốc lớp tuyết đóng băng cho vào miệng. Ông như sống lại kỷ niệm tuổi thơ ở xóm Bàn Cờ Sài Gòn vào đầu thập niên 1960. Kỷ niệm tuổi thơ sẽ đẹp một cách trọn vẹn nếu như ông không bị lôi vào cuộc chiến khốc liệt, buông súng và bỏ nước ra đi. Từ ngày đó, trái tim ông không bao giờ yên vui được lâu, những cảm nghĩ về cuộc binh đao quá khứ lại tràn lên ồ ạt như một đợt xung phong của đại đội. Nó đã tồn tại như một gánh nặng lương tâm vào mỗi buổi sáng khi ông thức giấc. Hết mười năm cuộc chiến đến hai mươi năm mỏ than, lại cũng là một cuộc chiến với tiếng nổ của mìn plastic bộc phá.
Ông nhìn quanh khu nhà, rồi nghĩ, - một ý nghĩ chẳng giúp ích được gì - “Thật là ác! Xây nhà theo cái kiểu gì mà cái nhà của người này đổ bóng che lên cái nhà của người kia. Ủa, mà cuộc sống của con người cũng y như vậy thôi, đời của người này đè lên đời người khác.”
Toàn bộ bờ biển thoai thoải này từng là một vùng thiên nhiên hoang dã chưa khai thác với những cây to lớn xum xuê cành lá. Những bụi cây xương rồng với cánh hoa lớn và những cây lưỡi rắn thân dầy như vòi voi mang vẻ lạc lõng rầu rĩ giữa khu nhà kiến trúc chen chúc. Sân thượng được o bế kỹ và tỉ mỉ hơn. Vợ ông đã kêu người trồng hoa phong lữ trong những cái hộp gỗ đặt dọc theo bờ tường. Ông thì chẳng mặn mà gì với hoa kiểng.
Từ ghế dựa có lót nệm êm, ông dễ dàng vói bàn tay năm ngón xương xẩu sờ nắn cọng cây hoa phong lữ khô héo vì thiếu nước tưới. Gió nóng Phan Thiết làm phồng rộp mớ cây kiểng này một cách thảm hại. Chẳng biết làm gì và hơi bực mình, ông tiện tay ngắt những cái lá, bông héo và vứt xuống đất. Không thể vói tay xa hơn để ngắt những cây khác, ông buông mình nằm xuống, kiệt sức như một chiếc ghe chìm; thân người gầy mỏng cong vòng của ông ép lên mặt nệm, trông như cánh cung căng sắp bắn tên. Ông quyết đoán một cách điên khùng với ý nghĩ “Đám hoa phong lữ này che khuất ánh nắng mặt trời quý báu của tôi đây mà!”
Và, bất kể khu vườn với đám cây cối làm cảnh mà ông cho là giả tạo và chẳng đẹp đẽ gì, ông nhất định nằm đây tắm nắng và hưởng những giọt nắng cuối cùng cho đến khi mặt trời lặn khuất. Ông đã nhắm mắt lại nằm thẳng và nhìn bằng hố đen sâu thẳm của lớp da mí mắt. Ngay cả ở đây, ở miền duyên hải Việt Nam ấm áp đầy ánh mặt trời, xa vời, hình ảnh mỏ than đá ở tận miền bắc xứ Canada lạnh giá vẫn còn hiển hiện.
Hốc mũi của ông đã chán ngán cái mùi than đá và cảm giác hai má mình còn rin rít lớp sương mù trơn nhớt. Mặc dù đã từ giã nghề làm thợ hầm mỏ mười mấy năm nay sau hai mươi năm đeo đuổi, nhưng ông không thể quên tháng ngày làm lụng vất vả vì đồng lương hậu hĩ ấy. Đối với ông, dường như mười mấy năm nhàn hạ vừa qua đi quá nhanh đến mức như ông chỉ mới rời công việc mỏ than tháng trước. Giờ đây, ông ngồi dưới ánh nắng mặt trời với đôi mắt nhắm nghiền, nhìn vào chiều sâu như bất tận của hai mươi năm lầm than đó. Lầm vì đã chọn làm việc ở mỏ than nên bây giờ nằm than thở. Ông nghĩ, có lẽ bụi than đen sì đã trở thành một con số bách phân nào đó trong máu của mình, đã gây ô nhiễm thể chất và tinh thần nên giờ ông mới lâm vào trạng thái trống rỗng u tối như thế này. Nó làm ông luôn cảm thấy thèm khát không khí trong lành, gió biển thoáng mát và nhất là ánh nắng mặt trời. Cũng chẳng đáng trách, vì coi như đời ông đã tàn phế rồi với căn bệnh gọi là hội chứng mệt mỏi triền miên, mệt mỏi tinh thần lẫn thể xác.
Ông vẫn nằm đó, tuy đôi mí mắt đóng lại nhưng đôi ngươi vẫn như nhìn thẳng vào hầm mỏ than hun hút sâu. Trong cõi tối tăm ấy, rõ ràng ông nhìn thấy những ngày đầu đến Canada. Ông đã háo hức dùng tay không vốc lớp tuyết đóng băng cho vào miệng. Ông như sống lại kỷ niệm tuổi thơ ở xóm Bàn Cờ Sài Gòn vào đầu thập niên 1960. Kỷ niệm tuổi thơ sẽ đẹp một cách trọn vẹn nếu như ông không bị lôi vào cuộc chiến khốc liệt, buông súng và bỏ nước ra đi. Từ ngày đó, trái tim ông không bao giờ yên vui được lâu, những cảm nghĩ về cuộc binh đao quá khứ lại tràn lên ồ ạt như một đợt xung phong của đại đội. Nó đã tồn tại như một gánh nặng lương tâm vào mỗi buổi sáng khi ông thức giấc. Hết mười năm cuộc chiến đến hai mươi năm mỏ than, lại cũng là một cuộc chiến với tiếng nổ của mìn plastic bộc phá.
Tháng Hai, Phan Thiết quê hương nước mắm trong tâm thức giờ là
khách sạn nhiều sao, sân gôn, sòng bạc, và khu nhà nghỉ sang trọng này.
Mũi Né, đồi cát, ruộng muối... Ông chỉ thấy trước mặt là các màu hoa cà,
màu trắng, màu đỏ nhạt của đám hoa phong lữ lên mạnh mẽ trong bồn chậu
xi măng. Ông nâng tay sờ cằm và cảm thấy râu ria người già mọc ra nhanh
hơn cả hoa cỏ.
Trong cơn mơ màng, nghĩ ngợi ông bỗng nghe tiếng vợ ông léo nhéo;
giọng nói của bà có âm vực cao cỡ như ca sĩ Ngọc Hạ hát bài Dòng Sông
Xanh.
- “Loại này hợp với khí hậu sương mù mát mẻ Đà Lạt lắm đó anh”. Bà nói chuyện với người bên cạnh nhưng lại đang quay loa miệng về phía ông. Người khách đàn ông khen nịnh: “Hoa kiểng của chị trồng thứ nào cũng đẹp quá.”
Ông lẩm bẩm: “Lại cái thằng nhà văn hay nhà báo gì đó đến quấy rầy nữa rồi!”
Khi mở mắt ra, ông thấy mặt trời đã bắt đầu chiếu tia nắng qua ngọn cây, bóng xuyên cành lá và như sắp tràn lan xuống phần gốc. “Đừng, khoan đã”, ông nghĩ. Ông chống khuỷu tay gượng ngồi dậy và quét mắt nhìn bầu trời. Chắc cũng đã ba giờ rưỡi chiều rồi cũng nên, chắc chắn vậy, ông nghĩ. Ông gọi trổng không, “Chắc trời cũng sẽ còn sáng một vài giờ nữa chứ?”
Rồi ông nghe tiếng những viên sỏi lát lối đi kêu rào rạo đau đớn dưới hai đôi giày: đôi cao gót của vợ ông và đôi giày chạy bộ của ông khách. “Gớm, hắn đi nện chân sao mà cứ như lính Đức Quốc Xã diễn hành!”, ông nghĩ thầm.
- “Loại này hợp với khí hậu sương mù mát mẻ Đà Lạt lắm đó anh”. Bà nói chuyện với người bên cạnh nhưng lại đang quay loa miệng về phía ông. Người khách đàn ông khen nịnh: “Hoa kiểng của chị trồng thứ nào cũng đẹp quá.”
Ông lẩm bẩm: “Lại cái thằng nhà văn hay nhà báo gì đó đến quấy rầy nữa rồi!”
Khi mở mắt ra, ông thấy mặt trời đã bắt đầu chiếu tia nắng qua ngọn cây, bóng xuyên cành lá và như sắp tràn lan xuống phần gốc. “Đừng, khoan đã”, ông nghĩ. Ông chống khuỷu tay gượng ngồi dậy và quét mắt nhìn bầu trời. Chắc cũng đã ba giờ rưỡi chiều rồi cũng nên, chắc chắn vậy, ông nghĩ. Ông gọi trổng không, “Chắc trời cũng sẽ còn sáng một vài giờ nữa chứ?”
Rồi ông nghe tiếng những viên sỏi lát lối đi kêu rào rạo đau đớn dưới hai đôi giày: đôi cao gót của vợ ông và đôi giày chạy bộ của ông khách. “Gớm, hắn đi nện chân sao mà cứ như lính Đức Quốc Xã diễn hành!”, ông nghĩ thầm.
(ảnh minh họa)
Bà đã đi đến gần cạnh ông và kêu lên kinh ngạc:
- “Trời đất! Sao anh bứt hoa phong lữ của em?”
Ông đáp tỉnh rụi:
- “Héo thì để làm gì.”
Người khách ngước đầu nheo mắt nhìn trời một lúc xong nói:
- “Mặt trời sắp lặn rồi đấy.”
Ông thầm nghĩ “Có khác chi đời ta. Hay là hắn nói kháy ta cũng không chừng.” Ôi, một người bệnh như ông nhìn đâu cũng chỉ toàn điều tiêu cực.
Ông khách cố tình bước trước tia nắng và đứng dựa lưng vào tường sân, cái đầu đầy tóc muối tiêu bùm sùm rõ từng sợi dưới ánh sáng mặt trời, và hắn nói một cách hứng thú:
- “Anh thấy về đây hưởng nhàn có lý không. Tôi nghĩ giờ này ở Canada, mấy người bạn của anh đang còn cong lưng xúc tuyết. Không biết anh nghĩ sao chứ tôi thấy anh về Việt Nam nghỉ hưu thật là một sự chọn lựa tuyệt vời. Thiên đàng cũng sướng như thế này thôi.”
Ông hẳn nhiên dư biết Tháng Hai Canada vẫn còn đang trong mùa Đông và bão tuyết có thể xảy ra. Nhưng ông vẫn nghĩ người khách nói như thế có hơi tàn nhẫn. Cười trên nỗi đau của người khác là bệnh hoạn. Hắn thích chí là phải. Hắn đang là khách của vợ chồng ông. Hắn hưởng thụ mọi thứ nơi đây hầu như miễn phí cả vài tuần nay. Cặp mắt của hắn, cái cười của hắn, cái mũi của hắn đều toát lên nét thỏa mãn đáng ghét. Mọi thứ được ngụy trang dưới chiêu bài làm phước giúp người.
Không nén được sự bực bội, ông chua chát cất tiếng:
- “Tất nhiên là bạn không thể biết tôi có cảm giác như thế nào. Bạn có đang đau yếu như tôi đâu mà bạn nói. Bạn làm ơn đừng đứng che ánh nắng mặt trời của tôi có được không?”
Trong lúc người khách dịch sang chỗ khác, ông hắng giọng. Lưỡng lự một lúc, ông can đảm bậm môi nuốt bãi đờm vào cổ họng rồi thẫn thờ buông mình trở lại xuống mặt nệm chiếc ghế dài.
Người khách dường như chẳng để ý lắm đến thái độ của người bệnh. Hắn có vẻ đang chú tâm đến chuyện riêng của hắn và nói với nét mặt tự mãn:
- “Anh Trí này! Lợi thế, - hay đúng hơn là một trong những lợi thế - của một nhà văn là anh ta có thể bám trụ ở bất cứ nơi nào mình ưa thích. Và bây giờ tôi đã là một ‘nhà xuất bản’ thành công ở thành phố đấy!”
- “Sài Gòn thì bạn gọi là Sài Gòn chứ bảo thành phố thì biết là thành phố nào. Mà bạn là một nhà xuất bản à? Tôi tưởng bạn chỉ là một nhà văn viết theo đơn đặt hàng hay phóng viên nhà báo chứ.” Ông hỏi lại ngay và không cần che giấu vẻ bực mình.
Một lần nữa, qua đôi mắt nhắm nghiền, ông lại như nhìn chằm chằm vào các mỏ than bỏ trống tối tăm sâu thẳm ở Alberta.
Vợ ông khom lưng nghiêng người bên ghế ông nằm, kiên nhẫn nhặt lên từng mẩu cánh lá và hoa phong lữ đã bị ông vặt lúc nãy. Bà không nói một lời. Và khi bà cử động, chiếc giỏ có nắp đậy trên cánh tay bà đong đưa, và cặp phách bằng gỗ trên chiếc giỏ chạm nhau kêu lách cách.
Bà nói nhỏ giọng:
- “Em chỉ cần cắt tỉa lại chút ít là mớ cây hoa này sẽ đẹp lại như cũ anh xem.”
Người chồng bệnh nói với vợ, giọng đượm ít cay đắng:
- “Em nhặt chúng để nấu canh đó à? Mà cái gì trong giỏ kêu lách cách vậy?”
Bà chợt nhớ ra và kêu lên:
- “À... hai con cua biển sống! Hồi sáng nầy em đi tản bộ qua xóm lưới thấy cua ngon quá nên mua về cho anh đó.”
Người khách đàn ông bật cười thành tiếng. Nằm đó, người bệnh có thể nghe cả tiếng hắn thở hổn hển chen lẫn trong tràng cười. Ông nói với vợ giọng gắt gỏng:
- “Sao em không luộc nó ngay đi. Để nó sống nhưng nó biết thế nào rồi nó cũng chết.”
Ông tò mò lắng tai nghe tiếng hai con cua cọ quậy rột rẹt trong giỏ. Vợ ông đáp:
- “Để ngày mai anh à. Em đang kêu người giúp việc đi chợ kiếm mua mayonnaise. Họ nói tới mai mới có.”
Người bệnh vẫn biết vợ ông lo cho ông, không muốn ông ăn mặn vì huyết áp cao. Cua luộc chấm mayonnaise đối với bà sẽ ngon và tốt hơn là muối tiêu. Bỗng ông chua chát hỏi:
- “Tại sao cái ông khách tên gì đó của em không trả lời câu hỏi của anh?”
Ông vẫn còn đang bị ám ảnh với những suy nghĩ về người khách thường đến quấy rầy ấy. Ông nhắc lại:
- “Anh hỏi có đúng ông ta là một nhà xuất bản không.”
Ông nghĩ hắn chẳng khác gì một con rắn, một tên tội phạm. Hắn đến đây sống báo đời ông và lại không cho ông sự hả hê được tranh luận với hắn một trận! Hắn không còn trẻ trung gì với cái đầu tóc muối tiêu đó, nhưng hắn có sức khỏe tức là hắn hơn ông tất cả: sức chịu đựng và kiên nhẫn của một kẻ khôn ngoan. Ông khinh miệt, nghĩ hắn có vẻ là một kẻ điếm đàng. Sau cái cách nói chuyện cười cười ra vẻ lịch sự đó, hắn không giấu được ông cái cung cách khúm núm nịnh bợ. Hắn đang đứng rất gần chiếc ghế ông nằm, đến nỗi ông có thể nghe hơi thở của hắn kêu í o. Có lẽ hắn đang nhìn ông không rời mắt, đang quan sát ông từng lỗ chân lông, từng sợi tóc để ghi nhận và giữ vào bộ nhớ của hắn.
Lúc ấy người khách mới lên tiếng:
- “Ồ, tôi xin lỗi anh. Tôi nghĩ là tôi nợ anh một lời xin lỗi. Như anh thấy đấy, tôi chưa quen với...”
- “Với cái gì?”, người bệnh sắc bén ngắt lời. Ông nhướng mày mắt mở và nhìn vào mặt người khách một cách nghi ngờ. Người khách tự xưng là một nhà xuất bản đáp ngay:
- “Tôi chưa quen thấy anh nằm liệt như thế này.”
Người bệnh mỉa mai:
- “Bạn che đậy khéo lắm.”
Nói xong ông đặt hai tay lên lồng ngực lép và tiếp lời:
- “Tôi đoán ý của bạn muốn ám chỉ một điều gì khác. Có phải bạn muốn nói tôi sắp chết? Nhìn lưỡi của bạn, tôi biết bạn định nói cái chữ ghê gớm đó.”
Ông nhắm mắt lại và thở dài sườn sượt. Rõ ràng ông lại ngửi thấy mùi khói hôi nồng của hầm mỏ than đá thuở xa xưa ở Alberta, nó cứ bám mãi theo ông chẳng bao giờ chịu tha. Ông nằm co giật trong thứ nắng xế héo hắt và gọi vợ:
- “Em à! Rót cho anh một ly sâm banh được không? Anh muốn uống rượu.”
Ông cố ngồi dậy và rồi tuôn lời:
- “Anh nói cho em biết, em khỏi cần phải giấu sự thật về anh.”
Vợ ông không đáp. Bà chỉ nhanh nhẹn rời sân thượng, bỏ lại hai người đàn ông với nhau. Người bệnh cười méo mó nói vói theo một cách dứt khoát, tuôn một hơi dài, chẳng cần biết vợ ông có nghe thấy hay không. Có khi ông muốn cho người khách nghe cũng không chừng:
- “Đừng có lầm! Đừng làm bất kỳ sai lầm nào. Quyển sách đời anh chưa hoàn toàn kết thúc ở đây đâu. Anh vẫn còn đang viết chương cuối đó nghe chưa em. Em chớ có tự đánh lừa mình.”
Người khách mừng rỡ chộp nói xuôi theo:
- “Tôi phải tự khen tôi là tôi không lầm. Tôi biết ngay là anh vẫn còn nhiều chuyện ly kỳ trong cuộc đời để kể cho tôi viết và xuất bản. Tôi hy vọng sẽ có được cái vinh dự xuất bản sách hồi ký của anh. Tôi trông cậy vào anh, xin anh biết cho.”
Hắn vui hẳn lên và nhìn người bệnh một cách rụt rè. Nhưng gương mặt người bệnh thình lình trở nên xám ngoét như thiếu sinh khí. Mặt trời đã xuống thấp hơn, ánh nắng chiếu trên khuôn mặt ông đã bị bóng cây che khuất. Ông nói một cách trống rỗng:
- “Tôi nào biết mặt trời lại xuống nhanh và tắt sớm như thế này.”
Vợ ông đã quay lại với chai rượu. Bà mở chai điệu nghệ, sành sỏi. Ông nằm nghiêng người lại để ngắm bà, một phụ nữ lớn con, mạnh mẽ, ngón cái của bàn tay phải cong cong lưỡi liềm mà linh hoạt một cách đáng ngạc nhiên. Tài sản của vợ chồng ông phát đạt được như ngày hôm nay cũng do công của bà. Những nắm tay của bà vững chắc, kiên trì như một con rắn quấn mồi trên cái cổ chai.
Chẳng biết bà vô tình hay cố ý mà cái nút chai văng lên một tiếng “bấc” lớn, và trúng ngay giữa trán ông khách. Chất rượu màu vàng tinh khiết xủi bọt phun vọt lên. Người bệnh thốt lên hốt hoảng và chìa bàn tay năm ngón khẳng khiu của ông như muốn đón lấy những giọt rượu:
- “Cho nó chảy lên tay anh nè em! Phí quá! Tưới nó lên người anh đi em!”
Vợ ông cũng cảm thấy vui lây trước sự trẻ con của chồng. Những giọt rượu li ti mát lạnh cũng văng lên mặt bà khiến bà cười thích thú. Bà vội rót rượu ra ba cái ly thủy tinh và rót thật khéo cho rượu khỏi tràn ra ngoài. Ông ngồi dậy nâng ly và nốc ừng ực. Ông mừng rỡ, cảm thấy chất rượu trong veo lóng lánh kia như nước suối xuân tươi mát chảy vào người ông, mang mùa xuân trở lại cho tim ông. Ông hạ cái ly trống không xuống và chìa ra van xin:
- “Em ơi, rót thêm một ly đầy nữa cho anh được không?”
Vợ ông làm theo lời. Ông nhìn chất rượu trong với những hạt bong bóng li ti thi nhau trồi lên miệng ly để rồi tan vỡ. “Tuyệt! Tuyệt!”, ông sung sướng reo lên và ngước mắt trao cho vợ một cái nhìn bẽn lẽn mà ngọt ngào. Ông nói:
- “Em à. Em thả hai con cua ra cho chúng bò anh xem được không? Chắc vui lắm.”
- “Anh phải cẩn thận đó nghe chưa. Tuy người ta đã chêm càng cho nó không há ra được nhưng anh vẫn nên cẩn thận đó.”
Bà nhắc ông mới nhớ lại trò chêm càng cua mà ngày còn nhỏ ở đồng quê Tiền Giang ông thường làm. Thuở xa xưa đó ông theo cậu út đi ngoáy hang cua biển. Cậu dùng một cọng mây dài, đầu có móc sắt, thò vào hang cua dọc theo mé mương để bắt cua. Ông đóng vai đệ tử cho cậu, xách giỏ, gỡ cua và chêm càng. Ông bẻ phần chót của cái ngoe nhọn của con cua và chêm vào kẽ lóng trên của càng cua cho nó hết cử động được. Kỷ niệm khiến ông thích chí:
- “Trời! Chẳng lẽ anh lại sợ một con cua! Đời anh còn ngán sợ gì nữa đâu!”
Vợ ông đặt ly rượu đang cầm trên tay xuống chiếc bàn thấp và xoay người mở nắp chiếc giỏ mây. Bà úp ngược giỏ cho hai con cua với bộ giáp xanh bóng mượt bò ra trên sàn gạch. Hai con vật giương cao đôi mắt như ngó quanh đôi càng ngoe nguẩy giống như kép hát bội múa song đao ngày xưa. Ông vói tay cố chạm vào cái mai của nó.
- “Coi chừng anh. Nó kẹp đau lắm đó!”, bà căn dặn chồng.
- “Anh muốn cầm nó lên một chút.”
Ông dùng hai ngón tay cầm nơi hai khóe ngoe cuối và nhấc nó lên và đặt nó lên tấm chăn mỏng đắp hờ trên người ông. Nó bò chậm chạp như ông từng bò trong đường hầm với chiếc đèn pin gắn trên nón an toàn của người thợ mỏ. Sau đó, ông giơ tay nhẹ nhàng vuốt ve lưng nó và nói với nó rằng đời nó chẳng dính dáng liên hệ gì đến đời ông, thế mà ông chỉ gặp nó trong chốc lát mà như mối duyên nhỏ.
Khi ông nâng con cua lên để nhìn thật gần, nó giương hai càng như thể cũng biết thương hại và đang tìm cách ôm để an ủi một ông già ốm yếu vì bệnh tật. Ông nghĩ thế, cái ý tưởng ngây thơ của một đứa bé con. Và rồi ông nghĩ đời ông và đời nó, chưa biết ai sướng khổ hơn ai. Ít ra nó không phải chịu đựng một nỗi dằn vặt khổ đau khi đối diện với cái chết như ông. Ngày mai nó bị luộc. Ngày mai cũng có thể ông lăn ra chết vì kiệt sức.
Ông thở ra một hơi dài, nhẹ nhàng vuốt đầu nó, rồi đặt nó bên cạnh “đứa bạn” đang dọ dẫm dưới chân ghế. Ông lại nâng ly sâm banh nhấm nháp và cay đắng nghĩ “Không có mầy tao cũng chẳng sao.”
Vợ ông vừa nói chuyện với người khách vừa đưa mắt theo dõi người chồng đau ốm. Người khách cũng trầm ngâm nhìn vào chiếc ly rượu vơi một lúc lâu rồi mới cười nói:
- “Anh Trí ạ, xin anh đừng hiểu lầm tôi. Tôi hoàn toàn nhận thức được thực tế là lâu lắm trước khi tôi gặp anh, chắc cũng đã có nhiều người khác muốn viết về cuộc đời anh, một cuộc đời có thể nói là ly kỳ ngoại hạng. Một sĩ quan tác chiến có những trận đánh lẫy lừng, một nghệ sĩ yêu chuộng cái đẹp thơ văn, một người tị nạn lưu vong, một người thợ mỏ âm thầm làm việc dưới lòng đất tối tăm. Anh có tất cả vinh quang, hạnh phúc, tài sản và sự từng trải; nghỉ hưu lại rất sớm, an nhàn du lịch nhiều nơi trên thế giới, giao thiệp rộng, nhiều bạn bè. Và anh cũng muốn có một tác phẩm để lại cho đời. Tôi chỉ muốn giúp anh đạt được ước vọng sau cùng. Vì thế tôi đã phỏng vấn chị nhà liên tiếp trong mấy tuần qua. Tôi cố gắng ghi chép mọi dữ kiện một cách cẩn thận và chính xác. Tôi cần làm việc gấp rút vì không ai có thể biết điều gì có thể xảy ra trong ngày mai.”
Người bệnh vô cùng hoang mang, ông nhìn mặt vợ và mặt người khách, mà chẳng hiểu tại sao ông chẳng thể có cảm tình với ông ta được. Ông cũng không hiểu nổi vì sao mình lại rơi vào tình trạng trầm cảm bất an tệ hại như thế này. Ông hoang mang lo sợ tất cả mọi thứ ông có đang vuột khỏi tầm tay. Ông sẽ mất tất cả vì ông đã mất sức khoẻ, kế đến sẽ là mạng sống. Ông cảm thấy chán nản, bất an và ngờ vực. “Nếu họ mắng mình, mình sẽ khóc.” Ông cảm giác môi dưới của mình đang run rẩy vì cảm xúc mạnh.
“Mắng mình, - ông đột ngột nghĩ trong sự phẫn nộ - mắng một ông già đau yếu với bộ râu lâu rồi không cạo?” Ông đưa tay run run xoa cằm để xác nhận mình đúng là ông già bệnh tật đầy râu mà họ mắng, dù có ai mắng ông đâu. Ông hậm hực nhíu mắt, cau mày ném về phía hai người một tia nhìn bực tức và đầy ác cảm.
- Bạn chưa trả lời câu hỏi của tôi!”, ông nói một cách hung hăng giận dữ. “Bạn chưa trả lời. Bạn có biết không!”
Cánh tay buông thõng bên thành ghế của ông quơ quơ đụng phải cái càng đã sút chêm và đang há ra của con cua. Nó kẹp ngón tay trỏ của ông một phát đau điếng. “Úi cha! Nó kẹp đau quá!” Ông hét lên và giật mạnh tay. Con cua rơi cộp xuống sàn gạch. Ông khiếp đảm khi thấy cái càng cua vẫn còn toòng teng trên tay ông. Ngón tay trỏ chảy máu ròng ròng. Ông nhìn ngón tay trừng trừng và mếu máo:
- “Tôi không muốn chết! Tôi không muốn chết!”
Ông khóc nức nở như một đứa trẻ con. Bà hốt hoảng chạy đến bên chồng, rút khăn tay trắng chậm máu cho chồng và ôm vai ông vỗ về:
- “Có em lo cho anh đây anh ơi. Anh đừng sợ nữa.”
Bà gỡ cái càng cua gẫy ra khỏi ngón tay ông và lấy khăn tay cột tạm ngón tay rách da của chồng, xong bà chạy nhanh vào nhà lấy hộp cứu thương. Bà thoăn thoắt trở ra rửa vết thương và băng bó cho ông.
Người khách lặng lẽ rút từ trong túi quyển sổ dầy cộm và ghi ghi chép chép. Đám hoa phong lữ trên sân thượng buồn bã co rúm lúc chiều tà. Mặt trời lặn dần trên đồi cát nơi phía xa.
Nắng tắt, người bệnh nằm trên chiếc ghế ngoẹo đầu nhắm mắt và không còn thiết tha đến bất cứ điều gì nữa.
- “Trời đất! Sao anh bứt hoa phong lữ của em?”
Ông đáp tỉnh rụi:
- “Héo thì để làm gì.”
Người khách ngước đầu nheo mắt nhìn trời một lúc xong nói:
- “Mặt trời sắp lặn rồi đấy.”
Ông thầm nghĩ “Có khác chi đời ta. Hay là hắn nói kháy ta cũng không chừng.” Ôi, một người bệnh như ông nhìn đâu cũng chỉ toàn điều tiêu cực.
Ông khách cố tình bước trước tia nắng và đứng dựa lưng vào tường sân, cái đầu đầy tóc muối tiêu bùm sùm rõ từng sợi dưới ánh sáng mặt trời, và hắn nói một cách hứng thú:
- “Anh thấy về đây hưởng nhàn có lý không. Tôi nghĩ giờ này ở Canada, mấy người bạn của anh đang còn cong lưng xúc tuyết. Không biết anh nghĩ sao chứ tôi thấy anh về Việt Nam nghỉ hưu thật là một sự chọn lựa tuyệt vời. Thiên đàng cũng sướng như thế này thôi.”
Ông hẳn nhiên dư biết Tháng Hai Canada vẫn còn đang trong mùa Đông và bão tuyết có thể xảy ra. Nhưng ông vẫn nghĩ người khách nói như thế có hơi tàn nhẫn. Cười trên nỗi đau của người khác là bệnh hoạn. Hắn thích chí là phải. Hắn đang là khách của vợ chồng ông. Hắn hưởng thụ mọi thứ nơi đây hầu như miễn phí cả vài tuần nay. Cặp mắt của hắn, cái cười của hắn, cái mũi của hắn đều toát lên nét thỏa mãn đáng ghét. Mọi thứ được ngụy trang dưới chiêu bài làm phước giúp người.
Không nén được sự bực bội, ông chua chát cất tiếng:
- “Tất nhiên là bạn không thể biết tôi có cảm giác như thế nào. Bạn có đang đau yếu như tôi đâu mà bạn nói. Bạn làm ơn đừng đứng che ánh nắng mặt trời của tôi có được không?”
Trong lúc người khách dịch sang chỗ khác, ông hắng giọng. Lưỡng lự một lúc, ông can đảm bậm môi nuốt bãi đờm vào cổ họng rồi thẫn thờ buông mình trở lại xuống mặt nệm chiếc ghế dài.
Người khách dường như chẳng để ý lắm đến thái độ của người bệnh. Hắn có vẻ đang chú tâm đến chuyện riêng của hắn và nói với nét mặt tự mãn:
- “Anh Trí này! Lợi thế, - hay đúng hơn là một trong những lợi thế - của một nhà văn là anh ta có thể bám trụ ở bất cứ nơi nào mình ưa thích. Và bây giờ tôi đã là một ‘nhà xuất bản’ thành công ở thành phố đấy!”
- “Sài Gòn thì bạn gọi là Sài Gòn chứ bảo thành phố thì biết là thành phố nào. Mà bạn là một nhà xuất bản à? Tôi tưởng bạn chỉ là một nhà văn viết theo đơn đặt hàng hay phóng viên nhà báo chứ.” Ông hỏi lại ngay và không cần che giấu vẻ bực mình.
Một lần nữa, qua đôi mắt nhắm nghiền, ông lại như nhìn chằm chằm vào các mỏ than bỏ trống tối tăm sâu thẳm ở Alberta.
Vợ ông khom lưng nghiêng người bên ghế ông nằm, kiên nhẫn nhặt lên từng mẩu cánh lá và hoa phong lữ đã bị ông vặt lúc nãy. Bà không nói một lời. Và khi bà cử động, chiếc giỏ có nắp đậy trên cánh tay bà đong đưa, và cặp phách bằng gỗ trên chiếc giỏ chạm nhau kêu lách cách.
Bà nói nhỏ giọng:
- “Em chỉ cần cắt tỉa lại chút ít là mớ cây hoa này sẽ đẹp lại như cũ anh xem.”
Người chồng bệnh nói với vợ, giọng đượm ít cay đắng:
- “Em nhặt chúng để nấu canh đó à? Mà cái gì trong giỏ kêu lách cách vậy?”
Bà chợt nhớ ra và kêu lên:
- “À... hai con cua biển sống! Hồi sáng nầy em đi tản bộ qua xóm lưới thấy cua ngon quá nên mua về cho anh đó.”
Người khách đàn ông bật cười thành tiếng. Nằm đó, người bệnh có thể nghe cả tiếng hắn thở hổn hển chen lẫn trong tràng cười. Ông nói với vợ giọng gắt gỏng:
- “Sao em không luộc nó ngay đi. Để nó sống nhưng nó biết thế nào rồi nó cũng chết.”
Ông tò mò lắng tai nghe tiếng hai con cua cọ quậy rột rẹt trong giỏ. Vợ ông đáp:
- “Để ngày mai anh à. Em đang kêu người giúp việc đi chợ kiếm mua mayonnaise. Họ nói tới mai mới có.”
Người bệnh vẫn biết vợ ông lo cho ông, không muốn ông ăn mặn vì huyết áp cao. Cua luộc chấm mayonnaise đối với bà sẽ ngon và tốt hơn là muối tiêu. Bỗng ông chua chát hỏi:
- “Tại sao cái ông khách tên gì đó của em không trả lời câu hỏi của anh?”
Ông vẫn còn đang bị ám ảnh với những suy nghĩ về người khách thường đến quấy rầy ấy. Ông nhắc lại:
- “Anh hỏi có đúng ông ta là một nhà xuất bản không.”
Ông nghĩ hắn chẳng khác gì một con rắn, một tên tội phạm. Hắn đến đây sống báo đời ông và lại không cho ông sự hả hê được tranh luận với hắn một trận! Hắn không còn trẻ trung gì với cái đầu tóc muối tiêu đó, nhưng hắn có sức khỏe tức là hắn hơn ông tất cả: sức chịu đựng và kiên nhẫn của một kẻ khôn ngoan. Ông khinh miệt, nghĩ hắn có vẻ là một kẻ điếm đàng. Sau cái cách nói chuyện cười cười ra vẻ lịch sự đó, hắn không giấu được ông cái cung cách khúm núm nịnh bợ. Hắn đang đứng rất gần chiếc ghế ông nằm, đến nỗi ông có thể nghe hơi thở của hắn kêu í o. Có lẽ hắn đang nhìn ông không rời mắt, đang quan sát ông từng lỗ chân lông, từng sợi tóc để ghi nhận và giữ vào bộ nhớ của hắn.
Lúc ấy người khách mới lên tiếng:
- “Ồ, tôi xin lỗi anh. Tôi nghĩ là tôi nợ anh một lời xin lỗi. Như anh thấy đấy, tôi chưa quen với...”
- “Với cái gì?”, người bệnh sắc bén ngắt lời. Ông nhướng mày mắt mở và nhìn vào mặt người khách một cách nghi ngờ. Người khách tự xưng là một nhà xuất bản đáp ngay:
- “Tôi chưa quen thấy anh nằm liệt như thế này.”
Người bệnh mỉa mai:
- “Bạn che đậy khéo lắm.”
Nói xong ông đặt hai tay lên lồng ngực lép và tiếp lời:
- “Tôi đoán ý của bạn muốn ám chỉ một điều gì khác. Có phải bạn muốn nói tôi sắp chết? Nhìn lưỡi của bạn, tôi biết bạn định nói cái chữ ghê gớm đó.”
Ông nhắm mắt lại và thở dài sườn sượt. Rõ ràng ông lại ngửi thấy mùi khói hôi nồng của hầm mỏ than đá thuở xa xưa ở Alberta, nó cứ bám mãi theo ông chẳng bao giờ chịu tha. Ông nằm co giật trong thứ nắng xế héo hắt và gọi vợ:
- “Em à! Rót cho anh một ly sâm banh được không? Anh muốn uống rượu.”
Ông cố ngồi dậy và rồi tuôn lời:
- “Anh nói cho em biết, em khỏi cần phải giấu sự thật về anh.”
Vợ ông không đáp. Bà chỉ nhanh nhẹn rời sân thượng, bỏ lại hai người đàn ông với nhau. Người bệnh cười méo mó nói vói theo một cách dứt khoát, tuôn một hơi dài, chẳng cần biết vợ ông có nghe thấy hay không. Có khi ông muốn cho người khách nghe cũng không chừng:
- “Đừng có lầm! Đừng làm bất kỳ sai lầm nào. Quyển sách đời anh chưa hoàn toàn kết thúc ở đây đâu. Anh vẫn còn đang viết chương cuối đó nghe chưa em. Em chớ có tự đánh lừa mình.”
Người khách mừng rỡ chộp nói xuôi theo:
- “Tôi phải tự khen tôi là tôi không lầm. Tôi biết ngay là anh vẫn còn nhiều chuyện ly kỳ trong cuộc đời để kể cho tôi viết và xuất bản. Tôi hy vọng sẽ có được cái vinh dự xuất bản sách hồi ký của anh. Tôi trông cậy vào anh, xin anh biết cho.”
Hắn vui hẳn lên và nhìn người bệnh một cách rụt rè. Nhưng gương mặt người bệnh thình lình trở nên xám ngoét như thiếu sinh khí. Mặt trời đã xuống thấp hơn, ánh nắng chiếu trên khuôn mặt ông đã bị bóng cây che khuất. Ông nói một cách trống rỗng:
- “Tôi nào biết mặt trời lại xuống nhanh và tắt sớm như thế này.”
Vợ ông đã quay lại với chai rượu. Bà mở chai điệu nghệ, sành sỏi. Ông nằm nghiêng người lại để ngắm bà, một phụ nữ lớn con, mạnh mẽ, ngón cái của bàn tay phải cong cong lưỡi liềm mà linh hoạt một cách đáng ngạc nhiên. Tài sản của vợ chồng ông phát đạt được như ngày hôm nay cũng do công của bà. Những nắm tay của bà vững chắc, kiên trì như một con rắn quấn mồi trên cái cổ chai.
Chẳng biết bà vô tình hay cố ý mà cái nút chai văng lên một tiếng “bấc” lớn, và trúng ngay giữa trán ông khách. Chất rượu màu vàng tinh khiết xủi bọt phun vọt lên. Người bệnh thốt lên hốt hoảng và chìa bàn tay năm ngón khẳng khiu của ông như muốn đón lấy những giọt rượu:
- “Cho nó chảy lên tay anh nè em! Phí quá! Tưới nó lên người anh đi em!”
Vợ ông cũng cảm thấy vui lây trước sự trẻ con của chồng. Những giọt rượu li ti mát lạnh cũng văng lên mặt bà khiến bà cười thích thú. Bà vội rót rượu ra ba cái ly thủy tinh và rót thật khéo cho rượu khỏi tràn ra ngoài. Ông ngồi dậy nâng ly và nốc ừng ực. Ông mừng rỡ, cảm thấy chất rượu trong veo lóng lánh kia như nước suối xuân tươi mát chảy vào người ông, mang mùa xuân trở lại cho tim ông. Ông hạ cái ly trống không xuống và chìa ra van xin:
- “Em ơi, rót thêm một ly đầy nữa cho anh được không?”
Vợ ông làm theo lời. Ông nhìn chất rượu trong với những hạt bong bóng li ti thi nhau trồi lên miệng ly để rồi tan vỡ. “Tuyệt! Tuyệt!”, ông sung sướng reo lên và ngước mắt trao cho vợ một cái nhìn bẽn lẽn mà ngọt ngào. Ông nói:
- “Em à. Em thả hai con cua ra cho chúng bò anh xem được không? Chắc vui lắm.”
- “Anh phải cẩn thận đó nghe chưa. Tuy người ta đã chêm càng cho nó không há ra được nhưng anh vẫn nên cẩn thận đó.”
Bà nhắc ông mới nhớ lại trò chêm càng cua mà ngày còn nhỏ ở đồng quê Tiền Giang ông thường làm. Thuở xa xưa đó ông theo cậu út đi ngoáy hang cua biển. Cậu dùng một cọng mây dài, đầu có móc sắt, thò vào hang cua dọc theo mé mương để bắt cua. Ông đóng vai đệ tử cho cậu, xách giỏ, gỡ cua và chêm càng. Ông bẻ phần chót của cái ngoe nhọn của con cua và chêm vào kẽ lóng trên của càng cua cho nó hết cử động được. Kỷ niệm khiến ông thích chí:
- “Trời! Chẳng lẽ anh lại sợ một con cua! Đời anh còn ngán sợ gì nữa đâu!”
Vợ ông đặt ly rượu đang cầm trên tay xuống chiếc bàn thấp và xoay người mở nắp chiếc giỏ mây. Bà úp ngược giỏ cho hai con cua với bộ giáp xanh bóng mượt bò ra trên sàn gạch. Hai con vật giương cao đôi mắt như ngó quanh đôi càng ngoe nguẩy giống như kép hát bội múa song đao ngày xưa. Ông vói tay cố chạm vào cái mai của nó.
- “Coi chừng anh. Nó kẹp đau lắm đó!”, bà căn dặn chồng.
- “Anh muốn cầm nó lên một chút.”
Ông dùng hai ngón tay cầm nơi hai khóe ngoe cuối và nhấc nó lên và đặt nó lên tấm chăn mỏng đắp hờ trên người ông. Nó bò chậm chạp như ông từng bò trong đường hầm với chiếc đèn pin gắn trên nón an toàn của người thợ mỏ. Sau đó, ông giơ tay nhẹ nhàng vuốt ve lưng nó và nói với nó rằng đời nó chẳng dính dáng liên hệ gì đến đời ông, thế mà ông chỉ gặp nó trong chốc lát mà như mối duyên nhỏ.
Khi ông nâng con cua lên để nhìn thật gần, nó giương hai càng như thể cũng biết thương hại và đang tìm cách ôm để an ủi một ông già ốm yếu vì bệnh tật. Ông nghĩ thế, cái ý tưởng ngây thơ của một đứa bé con. Và rồi ông nghĩ đời ông và đời nó, chưa biết ai sướng khổ hơn ai. Ít ra nó không phải chịu đựng một nỗi dằn vặt khổ đau khi đối diện với cái chết như ông. Ngày mai nó bị luộc. Ngày mai cũng có thể ông lăn ra chết vì kiệt sức.
Ông thở ra một hơi dài, nhẹ nhàng vuốt đầu nó, rồi đặt nó bên cạnh “đứa bạn” đang dọ dẫm dưới chân ghế. Ông lại nâng ly sâm banh nhấm nháp và cay đắng nghĩ “Không có mầy tao cũng chẳng sao.”
Vợ ông vừa nói chuyện với người khách vừa đưa mắt theo dõi người chồng đau ốm. Người khách cũng trầm ngâm nhìn vào chiếc ly rượu vơi một lúc lâu rồi mới cười nói:
- “Anh Trí ạ, xin anh đừng hiểu lầm tôi. Tôi hoàn toàn nhận thức được thực tế là lâu lắm trước khi tôi gặp anh, chắc cũng đã có nhiều người khác muốn viết về cuộc đời anh, một cuộc đời có thể nói là ly kỳ ngoại hạng. Một sĩ quan tác chiến có những trận đánh lẫy lừng, một nghệ sĩ yêu chuộng cái đẹp thơ văn, một người tị nạn lưu vong, một người thợ mỏ âm thầm làm việc dưới lòng đất tối tăm. Anh có tất cả vinh quang, hạnh phúc, tài sản và sự từng trải; nghỉ hưu lại rất sớm, an nhàn du lịch nhiều nơi trên thế giới, giao thiệp rộng, nhiều bạn bè. Và anh cũng muốn có một tác phẩm để lại cho đời. Tôi chỉ muốn giúp anh đạt được ước vọng sau cùng. Vì thế tôi đã phỏng vấn chị nhà liên tiếp trong mấy tuần qua. Tôi cố gắng ghi chép mọi dữ kiện một cách cẩn thận và chính xác. Tôi cần làm việc gấp rút vì không ai có thể biết điều gì có thể xảy ra trong ngày mai.”
Người bệnh vô cùng hoang mang, ông nhìn mặt vợ và mặt người khách, mà chẳng hiểu tại sao ông chẳng thể có cảm tình với ông ta được. Ông cũng không hiểu nổi vì sao mình lại rơi vào tình trạng trầm cảm bất an tệ hại như thế này. Ông hoang mang lo sợ tất cả mọi thứ ông có đang vuột khỏi tầm tay. Ông sẽ mất tất cả vì ông đã mất sức khoẻ, kế đến sẽ là mạng sống. Ông cảm thấy chán nản, bất an và ngờ vực. “Nếu họ mắng mình, mình sẽ khóc.” Ông cảm giác môi dưới của mình đang run rẩy vì cảm xúc mạnh.
“Mắng mình, - ông đột ngột nghĩ trong sự phẫn nộ - mắng một ông già đau yếu với bộ râu lâu rồi không cạo?” Ông đưa tay run run xoa cằm để xác nhận mình đúng là ông già bệnh tật đầy râu mà họ mắng, dù có ai mắng ông đâu. Ông hậm hực nhíu mắt, cau mày ném về phía hai người một tia nhìn bực tức và đầy ác cảm.
- Bạn chưa trả lời câu hỏi của tôi!”, ông nói một cách hung hăng giận dữ. “Bạn chưa trả lời. Bạn có biết không!”
Cánh tay buông thõng bên thành ghế của ông quơ quơ đụng phải cái càng đã sút chêm và đang há ra của con cua. Nó kẹp ngón tay trỏ của ông một phát đau điếng. “Úi cha! Nó kẹp đau quá!” Ông hét lên và giật mạnh tay. Con cua rơi cộp xuống sàn gạch. Ông khiếp đảm khi thấy cái càng cua vẫn còn toòng teng trên tay ông. Ngón tay trỏ chảy máu ròng ròng. Ông nhìn ngón tay trừng trừng và mếu máo:
- “Tôi không muốn chết! Tôi không muốn chết!”
Ông khóc nức nở như một đứa trẻ con. Bà hốt hoảng chạy đến bên chồng, rút khăn tay trắng chậm máu cho chồng và ôm vai ông vỗ về:
- “Có em lo cho anh đây anh ơi. Anh đừng sợ nữa.”
Bà gỡ cái càng cua gẫy ra khỏi ngón tay ông và lấy khăn tay cột tạm ngón tay rách da của chồng, xong bà chạy nhanh vào nhà lấy hộp cứu thương. Bà thoăn thoắt trở ra rửa vết thương và băng bó cho ông.
Người khách lặng lẽ rút từ trong túi quyển sổ dầy cộm và ghi ghi chép chép. Đám hoa phong lữ trên sân thượng buồn bã co rúm lúc chiều tà. Mặt trời lặn dần trên đồi cát nơi phía xa.
Nắng tắt, người bệnh nằm trên chiếc ghế ngoẹo đầu nhắm mắt và không còn thiết tha đến bất cứ điều gì nữa.
Phan Hạnh NTH Toronto.
| Rừng chiều khoác áo Rừng lá chiều nay khoác áo vàng Mảnh tình cũng thế ,đốm từng trang Mùa thu đẹp quá ,mong manh quá Gió khẽ vờn qua lá rụng hàng Gió khẽ lùa len ,gió rét lòng Quãng đuờng vấy bụi lắm mưa giông Còn trong ký ức niềm thuơng nhớ Phuợng thắm mùa hoa với gót hồng Design by Vagabond Kieu |
-
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
.jpg)

