Thứ Ba, 17 tháng 9, 2013

Những bóng hồng trong thơ nhạc

 
Hoa Lan_**ptmh--
Bài thơ Màu tím hoa sim của Hữu Loan được vinh danh là “một trong những bài thơ tình hay nhất thế kỷ XX” và lập những kỷ lục: Bài thơ được nhiều nhạc sĩ phổ nhạc nhất (7 ca khúc) và Bài thơ được mua với giá cao nhất (100 triệu đồng, thời điểm năm 2004).

Nhà thơ Hữu Loan thời thiếu niên (đầu thập niên 30 thế kỷ trước) thuộc dạng cực kỳ thông minh. Bố ông là tá điền, nhà nghèo không có điều kiện cắp sách đến trường như các bạn đồng trang lứa, Hữu Loan chỉ được cha dạy cho “chữ có, chữ không”… Vậy mà cậu đỗ đầu kỳ thi cao đẳng tiểu học, rồi rời quê nhà (làng Vân Hoàn, xã Nga Lĩnh, huyện Nga Sơn) để lên tỉnh lỵ Thanh Hóa vừa đi dạy kèm, vừa theo học trường Trung học Đào Duy Từ. Năm 1941, Hữu Loan ra Hà Nội thi tú tài, thi chỉ để “chứng tỏ con nhà nghèo cũng có thể đỗ đạt”. Y như rằng, trong hơn 700 thí sinh, nhưng số người đỗ chỉ “đếm trên đầu ngón tay” ấy lại có tên… Nguyễn Hữu Loan.

Dạo ấy ở Thanh Hóa có cửa hàng vải và sách báo của bà Tham Kỳ (bà này tên thật là Đái Thị Ngọc Chất, vợ của ông Thanh tra Canh nông Đông Dương Lê Đỗ Kỳ, nên gọi tắt là bà Tham Kỳ). Bà là người hiền lành, tốt bụng. Thấy “cậu tú Loan” là người hay chữ có tiếng lại thường đến cửa hàng của mình đọc sách, nên đã bàn cùng chồng mời “cậu tú” làm gia sư cho các con của mình, gồm: Lê Đỗ Khôi, Lê Đỗ Nguyên (tức trung tướng Phạm Hồng Cư sau này), Lê Đỗ An và cô con gái Lê Đỗ Thị Ninh…

Trong hồi ký, nhà thơ Hữu Loan viết: “Nhớ ngày đầu tiên tôi khoác áo gia sư, bà gọi mãi đứa con gái - lúc đó 8 tuổi - mới chịu lỏn lẻn bước lên khoanh tay, miệng lí nhí: “Em chào thầy ạ!”. Chào xong, cô bé bất ngờ mở to đôi mắt nhìn thẳng vào tôi. Đôi mắt to, đen láy, tròn xoe như có ánh chớp ấy đã hằn sâu vào tâm trí tôi, theo tôi suốt cả cuộc đời. Thế là tôi dạy em học, dạy viết… Em thật thông minh, dạy đâu hiểu đấy nhưng ít nói và mỗi khi mở miệng thì cứ y như “bà cụ non”. Đặc biệt em chăm sóc tôi hằng ngày một cách kín đáo… những buổi trưa hè, nhằm lúc tôi ngủ trưa, em lén lấy áo sơ mi trắng tôi treo ở góc nhà mang ra giếng giặt…”.

Có một buổi chiều, anh giáo trẻ đưa cô học trò nhỏ lên chơi ở ngọn đồi gần nhà. “Leo đến đỉnh đồi, em ngồi xuống và bảo tôi ngồi bên em. Chúng tôi ngồi thế một hồi lâu, chẳng nói gì. Bất chợt em nhìn tôi rồi ngước mắt nhìn ra tận chân trời… “Thầy có thích ăn sim không?”. Tôi nhìn xuống sườn đồi tím ngắt một màu sim. Em đứng lên đi xuống sườn đồi, còn tôi vì mệt quá nên nằm thiếp đi trên thảm cỏ… Khi tôi tỉnh dậy, em ngồi bên tôi với chiếc nón đầy ắp sim. Những quả sim đen láy, chín mọng… “Thầy ăn đi!”. Quả sim đối với tôi chẳng lạ lẫm gì nhưng thú thật chưa bao giờ tôi ăn những quả sim ngọt đến thế! Cứ thế, chúng tôi ăn hết quả này đến quả khác. Tôi nhìn em, em cười. Hai hàm răng em đỏ tím, đôi môi em cũng đỏ tím, hai bên má thì… tím đỏ một màu sim. Tôi cười phá lên, em cũng cười theo.

Cuối mùa đông năm ấy, tôi lên đường theo kháng chiến. Hôm tiễn tôi, em theo mãi ra tận đầu làng và lặng lẽ đứng nhìn theo. Tôi đi… lên tới bờ đê, nhìn xuống đầu làng, em vẫn đứng đó, nhỏ bé và mong manh. Em đưa bàn tay nhỏ xíu như chiếc lá sim ra vẫy tôi. Tôi vẫy trả và lầm lũi đi… Tôi quay đầu nhìn lại… Em vẫn đứng yên đó… Tôi lại đi và nhìn lại đến khi không còn nhìn thấy em nữa…

Chín năm sau, tôi trở lại nhà… Hôm gặp em ở đầu làng, tôi hỏi em, hỏi rất nhiều nhưng em không nói gì, chỉ bẽn lẽn lắc hoặc gật đầu. Em giờ đây không còn là cô học trò Ninh bướng bỉnh nữa rồi. Em đã gần 17 tuổi, đã là một cô gái xinh đẹp… Một tuần sau đó, chúng tôi kết hôn, việc hợp hôn của chúng tôi thành công là do bố mẹ em ngấm ngầm soạn kịch bản. Tôi bàn chuyện may áo cưới thì em gạt đi, bảo là “yêu nhau cốt là ở cái tâm và cái tình bền chặt là hơn cả!”. Tôi cao ráo, học giỏi, làm thơ hay lại… đẹp trai nên em thường gọi đùa là “anh chồng độc đáo”. Đám cưới được tổ chức tại ấp Thị Long, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa (nơi gia đình ông Lê Đỗ Kỳ có hàng trăm mẫu ruộng) - rất đơn sơ nhưng hai chúng tôi hạnh phúc hơn bao giờ hết!

Hai tuần nghỉ phép của tôi trôi qua thật nhanh. Hôm tiễn tôi lên đường, em vẫn đứng ở đầu làng, nơi chín năm trước em đã đứng. Chỉ có điều giờ em không còn là cô bé Ninh nữa mà là người bạn đời yêu quý của tôi. Tôi bước đi rồi quay đầu nhìn lại… Nếu như chín năm trước, nhìn lại chỉ thấy một nỗi buồn man mác thì lần này… đôi chân tôi như muốn khuỵu xuống!

Ba tháng sau, tôi nhận được tin dữ: vợ tôi qua đời! Hôm đó là ngày 25 tháng 5 âm lịch năm 1948. Em ra giặt quần áo ngoài sông Chuồn, vì muốn chụp lại tấm áo bị nước cuốn trôi nên trượt chân chết đuối… Khi ấy, chúng tôi đang đóng quân ở Nghệ An, tôi ngồi lặng đi, hai mắt tôi đẫm nước, tôi lấy bút ra… Chẳng cần phải suy nghĩ gì, những câu, những chữ mộc mạc cứ trào ra: “Nàng có ba người anh đi bộ đội/Những em nàng/Có em chưa biết nói… Tóc nàng xanh xanh/ngắn chưa đầy búi/Em ơi giây phút cuối/không được nghe nhau nói/không được trông nhau một lần/Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím/áo nàng màu tím hoa sim…”.

Về viếng mộ nàng, tôi dùng chiếc bình hoa ngày cưới làm bình hương. Viết lại bài thơ vào chiếc quạt giấy để lại cho người bạn ở Thanh Hóa… Anh bạn này đã chép lại và chuyền tay nhau trong suốt những năm chiến tranh. Đó là bài thơ Màu tím hoa sim…”.

Sau năm 1975, nhà thơ Hữu Loan có dịp vào Sài Gòn. Một hôm đang đi trên phố ông bắt gặp một người đàn ông cụt chân ôm cây guitar cũ kỹ hát xin tiền. Lời bài hát nghe quen quá: “Những đồi hoa sim ơi những đồi hoa sim tím chiều hoang biền biệt. Vào chuyện ngày xưa nàng yêu hoa sim tím khi còn tóc búi vai. Mấy lúc xông pha ngoài trận tuyến ai hẹn được ngày về. Rồi một chiều mưa bay, từ nơi chiến trường Đông Bắc đó, lần ghé về thăm xóm hoàng hôn tắt sau đồi…”. Hỏi, mới biết đó là bài Những đồi hoa sim mà lần đầu tiên Hữu Loan được nghe. Ông đề nghị người hành khất hát lại một lần nữa, rồi vét sạch tiền trong túi bỏ vào chiếc ca nhựa và nói: “Tôi là tác giả bài thơ được phổ nhạc”, rồi bước đi với đôi mắt ngấn lệ…


Hà Đình Nguyên
Thúy đã đi rồi, nhiều bạn đọc đã quan tâm đến nữ ca sĩ tài sắc một thời Thanh Thúy và yêu cầu cho biết rõ hơn về nhân vật này. Xin cung cấp thêm nhiều chi tiết thú vị…Thanh Thúy tên thật là Nguyễn Thị Thanh Thúy, sinh năm 1943 tại Huế trong một gia đình có 5 người con. Do bà mẹ mắc bệnh nan y nên gia đình Thanh Thúy phải rời đất Thần kinh đưa mẹ vào Sài Gòn chữa trị.

Gia đình họ thuê một căn nhà nhỏ trong con hẻm trên đường Cao Thắng. Để mưu sinh và để kiếm thêm tiền phụ vào việc thuốc thang cho mẹ, Thanh Thúy đã đến với nghiệp ca hát khi mới 16 tuổi. Thân gái dặm trường nơi đất khách quê người, điều khiến cho Thanh Thúy “dám” tự tin xuất hiện dưới ánh đèn sân khấu chính là giọng hát của mình vốn từng được nhiều lời khen ngợi.


Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn

Lần đầu tiên tiếng hát Thanh Thúy đến với công chúng Sài Gòn là ở phòng trà Việt Long của Đức Quỳnh vào cuối năm 1959. Với chất giọng trầm ấm, hơi khàn và lối phát âm, nhả chữ rất riêng, giọng ca của Thanh Thúy mang nỗi buồn man mác, nghẹn ngào nức nở. Dáng dấp mảnh mai và mái tóc dài buông lơi trên đôi vai gầy trong tà áo dài màu trắng hoặc lam nhạt... tạo cho nàng ca sĩ xứ Huế này một phong thái thật đặc biệt…

Những bản nhạc Thanh Thúy thường hát là Giọt mưa thu (Đặng Thế Phong), Tiếng xưa (Dương Thiệu Tước), Kiếp nghèo (Lam Phương), Tàu đêm năm cũ, Nửa đêm ngoài phố (Trúc Phương)…

Tháng 6.1960, thân mẫu của Thanh Thúy qua đời, điều đó càng làm cho giọng hát của chị thêm não nùng để những ai “lỡ nghe” đều có cảm xúc lâng lâng… Và, như đã nói ở bài trước, có cả một thế hệ văn nghệ sĩ ở Sài Gòn đâm ra…mê mệt với Thanh Thúy, trong đó có một chàng thư sinh mới tò te bước vào làng nhạc, nhưng sau này rất nổi tiếng: Trịnh Công Sơn!

Trong tác phẩm Về một quãng đời Trịnh Công Sơn (của Nguyễn Thanh Ty), nhạc sĩ tâm sự: “Năm đó tôi 17 tuổi, trọ học ở Sài Gòn, đêm nào tôi cũng lò dò đến các phòng trà để nghe Thanh Thúy hát. Dần dần hình bóng Thanh Thúy đã ăn sâu vào trong tôi lúc nào không biết. Nói yêu Thanh Thúy thì cũng chưa hẳn bởi tôi mặc cảm nghèo và vô danh, trong khi Thanh Thúy là một ca sĩ đang lên, kẻ đón người đưa tấp nập. Biết vậy, nhưng tôi không thể không đêm nào thiếu hình ảnh và tiếng hát của nàng. Có đêm tôi chỉ đủ tiền để mua một ly nước chanh. Đêm đêm tôi thao thức với những khát khao, mơ ước phải làm một cái gì đó để tỏ cho Thanh Thúy biết là tôi đang rất ngưỡng mộ nàng. Cái khát vọng đó đã giúp tôi viết nên bản nhạc Ướt mi đầu tiên trong đời...”.

Đó là lần ngồi ở nhà hàng Mỹ Cảnh, chàng trai trẻ Trịnh Công Sơn đã viết vào một mảnh giấy nhỏ, đề nghị ca sĩ Thanh Thúy hát bài Giọt mưa thu của Đặng Thế Phong. Điều chàng bất ngờ là Thanh Thúy đã hát bài này với một cảm xúc thật mãnh liệt, khi hát “...vài con chim non chiêm chiếp kêu trên cành, như nhủ trời xanh: Gió ngừng đi, mưa buồn chi, cho cõi lòng lâm ly... Ai nức nở thương đời châu buông mau, dương thế bao la sầu...” - nhớ đến người mẹ bị lao phổi nặng, đang mỏi mòn chờ con trong căn nhà nhỏ ở con hẻm sâu - nàng đã bật khóc. Những giọt nước mắt đọng trên vành mi của người ca sĩ tuổi mới tròn trăng đã gieo vào lòng Trịnh Công Sơn nỗi xúc cảm tràn ngập để chàng viết thành ca khúc Ướt mi.

“Khi hoàn thành, tôi nắn nót chép lại thật kỹ càng và luôn mang theo bên mình chờ có dịp tặng nàng. Với sự nhút nhát của tuổi trẻ, tôi không dám đưa tặng ngay mà phải chờ khá lâu mới có cơ hội. Một hôm tôi đánh bạo, tìm một chỗ sát sân khấu, dự định khi nàng vừa dứt tiếng hát là tôi sẽ đứng lên đưa luôn. Đã mấy lần định làm vẫn không kịp. Nàng vừa cúi đầu chào khán giả là đã có người chực sẵn rước đi ngay. Cái đêm định mệnh mà tôi quyết tâm an bài đã thành công. Khi cầm bản nhạc trong tay, nghe mấy lời lí nhí của tôi, nàng chỉ thoáng nhìn tôi một chút rồi quay vào hậu trường. Đêm đó, tôi nôn nao không ngủ được... Mãi đến hai tuần sau, khi tôi sắp tuyệt vọng vì mỏi mòn chờ đợi thì một đêm kia, khi bước lên bục diễn, dàn nhạc dạo khúc mở đầu thì nàng ra dấu cho dàn nhạc tạm im tiếng để nàng nói vài lời: “Thưa quý vị ! Đêm nay Thúy sẽ trình bày một tác phẩm rất mới của một nhạc sĩ rất lạ tặng cho Thúy. Đó là nhạc phẩm Ướt mi của tác giả Trịnh Công Sơn. Hy vọng đêm nay sẽ có sự hiện diện của tác giả để Thúy được nói vài lời cám ơn”. Nói xong, nàng quay sang ban nhạc, đưa bản nhạc của tôi cho họ dạo nhạc bắt đầu. Nàng cất tiếng hát: “Ngoài hiên mưa rơi rơi, lòng ai như chơi vơi. Người ơi nước mắt hoen mi rồi. Đừng khóc trong đêm mưa, đừng than trong câu ca... Buồn ơi trong đêm thâu, ôm ấp giùm ta nhé: người em thương mưa ngâu, hay khóc sầu nhân thế…Trời sao chưa thôi mưa, ôi mắt người em ấy. Từ đây thôi mờ, nước mắt buồn mi em thơ ngây...”. Tôi run lên trong lòng vì sung sướng và xúc động…Khi dứt tiếng hát, nàng dừng lại khá lâu, có ý chờ người tặng nhạc. Tôi thu hết can đảm, bước lên và nói: “Xin cám ơn Thanh Thúy đã hát bài nhạc của tôi”. Nàng “A” lên một tiếng ra vẻ bất ngờ rồi nói tiếp: “Thúy rất cám ơn anh đã tặng cho bản nhạc. Thúy muốn nói chuyện riêng với anh được không ?”. Tôi luống cuống gật đầu…Tôi cùng nàng đón taxi về nhà nàng. Nhà nàng ở sâu trong một ngõ hẻm...

Cũng chính từ ngõ hẻm nhà nàng mà Trịnh Công Sơn làm tiếp bài Thương một người: “Thương ai về ngõ tối, sương rơi ướt đôi môi... Thương nụ cười và mái tóc buông lơi. Mùa thu úa trên môi, từng đêm qua ngõ tối, bàn chân âm thầm nói. Lặng nghe gió đêm nay, ngại buốt quá đôi vai. Bờ vai như giấy mới, sợ nghiêng hết tình tôi…”. Đó là hai bản nhạc trong “thuở vào đời” của Trịnh Công Sơn và những kỷ niệm thật đẹp với nữ ca sĩ Thanh Thúy.


Hà Đình Nguyên

Trong lịch sử âm nhạc Việt Nam, Đặng Thế Phong là một trường hợp đặc biệt. Ông là một trong rất ít nhạc sĩ tiên phong của thời kỳ tân nhạc còn phôi thai, chết rất trẻ nhưng kịp để lại cho đời 3 ca khúc bất hủ.

Người viết có may mắn được gặp gỡ hai người biết khá rõ về cuộc đời Đặng Thế Phong. Đó là nhạc sĩ Lê Hoàng Long, tác giả ca khúc Gợi giấc mơ xưa (hiện sống tại TP.HCM) và nhà văn Phạm Cao Củng (gặp cách đây khoảng 10 năm, khi ông từ Mỹ về thăm quê hương, qua sự giới thiệu của họa sĩ Mạc Chánh Hòa). Theo nhà văn Phạm Cao Củng thì Đặng Thế Phong là một chàng trai rất đẹp, đàn hay hát giỏi, thích hóa trang thành thiếu nữ trong những vở kịch ngắn. Anh diễn rất đạt nên ai cũng yêu thích, nhất là phái nữ.

Nhạc sĩ Lê Hoàng Long thì khẳng định người yêu của Đặng Thế Phong tên Tuyết. Tuyết không đẹp nhưng có duyên. Cô là con gái một chủ tiệm buôn bán “gối màn chăn drap” ở chợ Sắt (Nam Định). Vốn tính nhút nhát, Đặng Thế Phong nghĩ mãi cũng không biết làm cách nào để “tiếp cận” người đẹp. Cuối cùng, anh vờ làm khách hàng vô hỏi giá rồi... nhét vội vào tay nàng một lá thư. Chẳng biết nội dung bức thư đầu tiên này mùi mẫn như thế nào mà sau đó cô Tuyết đã cự tuyệt một anh thông phán trẻ làm việc ở Tòa Đốc lý Nam Định, khi anh này dạm hỏi.

Thuyền mơ buồn trôi xuôi dòng

Trước khi quen và yêu Tuyết, Đặng Thế Phong đã sáng tác ca khúc đầu tay Đêm thu trong một đêm cắm trại của Hướng đạo sinh (1940). Ca từ của bản nhạc rất trong trẻo, lạc quan... Còn bản Con thuyền không bến thì được sáng tác ở Phủ Lạng Thương (Bắc Giang) khi tình yêu giữa nhạc sĩ và cô Tuyết đang độ chín mùi.

Một hôm, ông cùng một nhóm bạn văn nghệ sĩ lên Bắc Giang chơi, nhân đó họ tổ chức một đêm đi thuyền trên sông Thương. Cùng lúc đó, chàng nhận được tin Tuyết ngã bệnh nơi quê nhà. Lòng dạ bồn chồn, xót xa, Đặng Thế Phong ôm đàn bước vào khoang thuyền, bỏ mặc các bạn đang đùa vui. Khi đêm sắp tàn thì bản nhạc hoàn tất với những lời ai oán não nùng gửi về... chân mây: “Đêm nay thu sang cùng heo may. Đêm nay sương lam mờ chân mây... như nhớ thương ai chùng tơ lòng...”, rồi “... Nhớ khi chiều sương cùng ai trắc ẩn tấm lòng. Biết bao buồn thương, thuyền mơ buồn trôi xuôi dòng...”.

Sớm hôm sau, Đặng Thế Phong tức tốc trở về Hà Nội, người đầu tiên được nghe chính tác giả hát ca khúc này là người yêu của ông. Cô Tuyết hết sức cảm động. Chưa hết, chỉ ít lâu sau, Con thuyền không bến ra mắt khán giả thủ đô tại Nhà hát Lớn Hà Nội qua tiếng hát của nữ ca sĩ Vũ Thị Hiển. Từ Nam Định, cô Tuyết đã bỏ hẳn một ngày chợ để lên Hà Nội, ngồi cạnh Đặng Thế Phong, ngay ở hàng ghế đầu để nghe bài hát “người ấy làm riêng cho mình”. Hạnh phúc còn nhân đôi bởi chỉ khoảng một tuần sau, tại rạp Olympia (phố Hàng Da, Hà Nội), cô Tuyết còn được chứng kiến người mình yêu tự đệm đàn, tự hát ca khúc này mà ánh mắt luôn trìu mến hướng về chỗ cô ngồi, trong tiếng hoan hô nhiệt liệt của khán giả.

Trời thu gieo buồn lây

Sau khi từ Bắc Giang về, Đặng Thế Phong đã nhuốm bệnh. Thời đó, bệnh lao là một bệnh nan y và luôn bị những người chung quanh xa lánh.

Bệnh tình ngày càng trầm trọng, ở tỉnh không đủ điều kiện chữa trị, Đặng Thế Phong phải chuyển lên Hà Nội, sống chung với ông chú họ Nguyễn Trường Thọ trong một căn gác ở làng hoa Ngọc Hà (ngoại ô Hà Nội). Tuy vậy, tình trạng vẫn không khá hơn chút nào. Gia cảnh nghèo nàn, tiền bạc phải vay mượn để chữa trị, cuộc sống kham khổ làm cho tình cảnh của nhạc sĩ càng thêm nghiệt ngã... Cô Tuyết vì phải phụ giúp gia đình chuyện buôn bán ở thành Nam nên vài hôm mới lên Hà Nội chăm sóc người yêu rồi lại tất tả quay về.

Tháng 7 mưa ngâu. Cảnh buồn tê tái. Đặng Thế Phong nhớ Tuyết quay quắt... Nhạc hứng tuôn trào, chàng gượng ngồi dậy, ôm đàn và viết nên khúc nhạc buồn da diết: “Ngoài hiên giọt mưa thu thánh thót rơi. Trời lắng u buồn, mây hắt hiu ngừng trôi. Nghe gió thoảng mơ hồ trong hơi thu, ai khóc ai than hờ... Trời thu đến nơi đây gieo buồn lây. Lộng vắng bốn bề không liếp che gió về. Ai nức nở quên đời châu buông mau, dương thế bao la sầu...”. Bản nhạc được chàng đặt tên là Vạn cổ sầu. Bạn bè góp ý nhạc thì hay nhưng cái tựa bi thảm quá. Cuối cùng, tên bản nhạc được đổi thành Giọt mưa thu.

Cuối năm 1941, biết mình khó qua khỏi, Đặng Thế Phong nhờ ông Thọ đưa về Nam Định. Từ đấy cho đến lúc Đặng Thế Phong lìa đời, cô Tuyết lúc nào cũng túc trực bên giường bệnh để chăm sóc ông, khiến những người quen biết đều xót xa thương cảm cho một mối tình vô vọng lẫn nể phục tính cách cao thượng chung thủy của Tuyết.

Tang lễ của chàng nhạc sĩ 24 tuổi ấy được rất nhiều thanh niên nam nữ của thành Nam tham dự. Ngoài việc đưa tiễn một người con tài hoa nổi tiếng của quê hương, họ còn muốn chia sẻ và tỏ lòng trân trọng đến với cô thiếu nữ mặc áo đại tang đi sau linh cữu của chàng (việc này được phép của cả hai gia đình).
Đặng Thế Phong sinh năm 1918 tại TP.Nam Định. Cha là Đặng Hiển Thế - thông phán Sở Trước bạ Nam Định. Thân phụ Đặng Thế Phong mất sớm, hoàn cảnh gia đình quá túng thiếu, Đặng Thế Phong phải bỏ dở việc học (đang học năm thứ hai bậc thành chung - tương đương lớp 7 bây giờ) để lên Hà Nội tìm kế sinh nhai.

Với chất nghệ sĩ thiên phú và tư chất cực kỳ thông minh, Đặng Thế Phong đã “len” vào được Trường cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương (học dự thính). Ở Hà Nội, Đặng Thế Phong vừa học vẽ vừa thực hành để nuôi thân. Ông chuyên vẽ minh họa cho tờ báo Học sinh do nhà văn chuyên viết truyện trinh thám Phạm Cao Củng làm chủ nhiệm.

Hà Đình Nguyên


Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước được ghi nhận là một trong những người đặt nền móng cho nền tân nhạc Việt, còn người bạn đời của ông - ca sĩ Minh Trang - cũng được cho là một trong những ca sĩ tiên phong của làng ca nhạc Việt. Tiếng hát “lá ngọc cành vàng”Trước khi gặp nhau, Dương Thiệu Tước và Minh Trang đều xuất thân từ những gia đình “danh gia vọng tộc”.

Dương Thiệu Tước sinh năm 1915 tại làng Vân Đình, huyện Sơn Lãng, phủ Ứng Hòa, tỉnh Hà Đông. Ông là cháu nội của cụ nghè Dương Khuê. Ở giai đoạn phôi thai của nền tân nhạc Việt, trong khi nhiều người mượn những bài hát phương Tây rồi đặt lời Việt cho dễ hát thì ông lại cả gan viết “lời Tây theo điệu ta”.

Dương Thiệu Tước đánh đàn guitar hawaienne rất giỏi, ông còn là chủ nhân của một cửa tiệm bán đàn ở phố Hàng Gai, Hà Nội và có mở cả lớp dạy đàn. Trong sinh hoạt hằng tuần với các bạn nhạc sĩ tài tử của mình, ông đã sáng tác mấy bài mang những đầu đề bằng tiếng Pháp, như Joie d'aimer (Thú yêu đương), Souvenance (Hồi niệm), Ton Doux Sourire (Nụ cười êm ái của em)... Lời ca của những bài này do Thẩm Bích (anh ruột của Thẩm Oánh) soạn bằng Pháp ngữ. Ông từng tuyên bố: "Nếu đã có nhà văn Việt Nam viết văn bằng tiếng Pháp, thì nhà soạn nhạc Việt Nam cũng có thể viết được những bản nhạc có âm điệu Tây phương'' (Báo Việt Nhạc số 5, ngày 16.10.1948)...

Còn cô Nguyễn Thị Ngọc Trâm (tên thật của Minh Trang) là con gái của quan Tổng đốc Bình Định Nguyễn Hy (sau này ông còn làm Tổng đốc Thanh Hóa, rồi Thượng thư Bộ Hình). Ngọc Trâm còn là cháu ngoại của công chúa Mỹ Luông (còn gọi là Bà Chúa Nhất) - em ruột vua Thành Thái... Ngọc Trâm chào đời năm 1921 trong một nhà hộ sinh nằm ngay trên Bến Ngự (Huế). Như một định mệnh, 25 năm sau, một bài hát bất hủ mang tên Đêm tàn Bến Ngự của một nhạc sĩ tài hoa ra đời mà tên tuổi của ông sẽ gắn liền với cuộc đời của cô bé Ngọc Trâm sau này.

Thời thiếu nữ, ngoài sắc đẹp trời cho, Ngọc Trâm còn sở hữu một giọng hát thiên phú. Những năm học tiểu học ở trường dòng Jeanne d’Arc, rồi trung học ở Lycée Khải Định (Huế) thập niên 1930, tiếng hát của cô làm cho biết bao thầy cô, bạn bè cùng trường ngây ngất. Dĩ nhiên, đó là những bài hát Pháp, bởi lúc đó chưa có bài hát nào mà bây giờ chúng ta gọi là “nhạc tiền chiến”… Năm 1942, sau khi tốt nghiệp tú tài toàn phần (nên nhớ vào lúc đó rất hiếm phụ nữ đỗ đạt như thế), Ngọc Trâm kết hôn với một giáo sư nổi tiếng của đất thần kinh: giáo sư Ưng Quả (cháu nội của Tuy Lý vương Miên Trinh)… Nhưng chỉ mấy năm hương lửa mặn nồng, giáo sư Ưng Quả qua đời trong giai đoạn chuyển mình của đất nước, chế độ phong kiến cáo chung. Lúc này, giai cấp quan lại, thượng lưu không còn được ưu đãi, cuộc sống của họ trở nên khó khăn… Năm 1948, Ngọc Trâm đưa 2 người con vào Sài Gòn dự thi và trúng tuyển vai trò xướng ngôn viên cho Đài phát thanh Pháp Á. Công việc của cô là dịch những bản tin từ tiếng Pháp sang tiếng Việt và đọc những bản tin đó trên làn sóng. Trong những lần dịch tin, Ngọc Trâm thường nghêu ngao những bài hát Việt mới thịnh hành gần đây như Giọt mưa thu, Con thuyền không bến (Đặng Thế Phong, sáng tác năm 1939), Tiếng xưa (1940), Đêm tàn Bến Ngự (1946) của Dương Thiệu Tước... Hát chơi vớ vẩn thế thôi, vậy mà tiếng hát ấy đã làm cả đài phát thanh ngẩn ngơ. Một hôm, ông Hoàng Cao Tăng - chủ sự Phòng Văn nghệ chợt đề nghị Ngọc Trâm thử hát trên sóng phát thanh một bài. Sau những đắn đo và cả những lời động viên, khuyến khích, tiếng hát của… nữ ca sĩ Minh Trang lần đầu tiên gửi đến quý thính giả Đài Pháp Á qua ca khúc Giọt mưa thu của Đặng Thế Phong. Minh Trang hát hay đến nỗi đài phát thanh quyết định trả “cát sê” ngay, không kể tiền lương...

Cũng cần nói thêm, do ngại ngùng nên Ngọc Trâm không dám hát với tên thật mà ghép tên của hai người con (Bửu Minh và Công Tằng Tôn Nữ Đoan Trang) thành nghệ danh (Đoan Trang sau này trở thành nữ ca sĩ Quỳnh Giao ở hải ngoại).

Từ đó, tiếng hát của nữ ca sĩ Minh Trang theo sóng phát thanh của Đài Pháp Á lan tỏa khắp nơi. Năm 1949, chính Thủ hiến Bắc kỳ Nguyễn Hữu Trí gửi công văn mời đích danh ca sĩ Minh Trang tham dự Hội chợ đấu xảo tại Hà Nội. Đây là dịp để các nhạc sĩ hào hoa xứ Bắc kéo nhau đến chiêm ngưỡng nhan sắc của “giọng hát vàng phương Nam”. Và định mệnh đã xuống tay khi trong số những tài tử ấy có mặt Dương Thiệu Tước. Tuy đã có hai mặt con nhưng Minh Trang lúc ấy vẫn giữ được một vẻ đẹp quý phái “chim sa, cá lặn”.

Duyên nợ ba sinh

Đúng 60 năm sau (2009), ở tuổi chín mươi, bà Minh Trang kể lại với nhà thơ Du Tử Lê rằng: “Mặc cho các bạn Thẩm Oánh, Nguyễn Thiện Tơ, Dzoãn Mẫn… lăng xăng, líu lo, rối rít, ông ấy (Dương Thiệu Tước) im lặng từ đầu đến cuối. Chỉ nhìn thôi. Lâu lâu mới mỉm cười. Sự xa cách, lặng lẽ này khiến tôi càng thêm chú ý. Trước khi gặp gỡ, tôi đã từng hát nhạc của ông ấy nên tôi cũng rất ao ước được gặp mặt con người tài hoa này”. Thế rồi “tình trong như đã, mặt ngoài còn e”...

Khi Minh Trang trở lại Sài Gòn, chỉ ít ngày sau nàng nhận được thư tỏ tình của tác giả Tiếng xưa. Có lẽ vẻ lạnh lùng, ít nói của ông khi cùng các bạn vây quanh Minh Trang là do ông tự mặc cảm mình đã có vợ (19 tuổi, ông lập gia đình với bà Lương Thị Thuần, cũng xuất thân từ một dòng họ khoa bảng. Thời đó việc kết hôn thường được các cụ dàn xếp theo truyền thống “môn đăng hộ đối”. Ông bà đã có 3 con gái và 2 con trai). Thế nhưng khi Minh Trang như cánh chim vút bay xa thì ông không thể dối lòng được nữa, ông thật sự bị “hớp hồn” bởi vẻ đẹp và giọng hát của nàng. Những cánh thư liên tiếp qua lại giữa hai miền. Những ca khúc ông sáng tác trong giai đoạn này do Nhà xuất bản Tinh Hoa (Huế) xuất bản, ông không còn đứng tên đơn lẻ nữa, mà ghi “Nhạc và lời: Dương Thiệu Tước - Minh Trang”. Đó là những ca khúc bất hủ, tiêu biểu như Bóng chiều xưa, Buồn xa vắng, Khúc nhạc dưới trăng, Ôi quê xưa, Vui xuân...

Nữ ca sĩ Minh Trang cũng kể lại rằng, trước khi nhận lời cầu hôn của nhạc sĩ Dương Thiệu Tước, chính bà đã bay ra Hà Nội để gặp người vợ trước của ông này và thông báo quyết định của hai người. “Có thể không có một người phụ nữ thứ hai, nhất là ở thời đó, hành xử như tôi. Nhưng đó là tôi, cách của tôi: tự tin và tự trọng!” - bà nói.

Khi hai người chính thức chung sống ở Sài Gòn, ông làm tặng vợ mình ca khúc Ngọc Lan. “Ngọc Lan” là do tên Ngọc Trâm của bà. Nếu ai có bản gốc của Nhà xuất bản Tinh Hoa (1953) sẽ thấy tất cả những chữ Ngọc Lan trong bài hát đều được viết hoa, để phân biệt đây là tên người chứ không phải là tên loài hoa: “Ngọc Lan, dòng suối tơ vương, mắt thu hồ dịu ánh vàng. Ngọc Lan, nhành liễu nghiêng nghiêng, tà mấy cánh phong, nắng thơm ngoài song... Ngọc Lan, giọng ướp men thơ, mát êm làn lụa bông là. Ngọc Lan, trầm ngát thu hương, bờ xanh bóng dương phút giây chìm sương... (Ngọc Lan).


Sau 25 năm chung sống, đôi tài tử giai nhân có thêm 5 người con (1 trai, 4 gái). Cùng với Bửu Minh và Đoan Trang, tất cả đều được “bố Tước” đào tạo bài bản ở Trường quốc gia Âm nhạc và Kịch nghệ Sài Gòn. Sau năm 1975, bà Minh Trang và các con sang định cư ở Mỹ. Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước ở lại và qua đời vào ngày 1.8.1995 tại TP.HCM, thọ 80 tuổi. Bà Minh Trang mất ngày 17.8.2010 tại California (Mỹ), thọ 90 tuổi.

Hà Đình Nguyên
**

Thứ Hai, 16 tháng 9, 2013

Sống và hãy để cho người khác sống - Phan Hạnh



Trong mỗi con người chúng ta hiện hữu nhân tính và vật tính (hay thú tính?), một đàng là đức hạnh cao đẹp và một đàng là thói hư tật xấu. Chừng nào nhân tính mới khống chế được vật tính đây?
Xác định và nhận diện thói hư tật xấu trong con người chúng ta đã khó, khắc phục để chiến thắng nó càng khó hơn bội phần. Chính vì thế, những hành động hận thù và tội ác vẫn xảy ra đầy dẫy trong xã hội. Thay vì sống hòa thuận với mọi người chung quanh, sống và để cho người khác cùng sống, “Live and let live”, lắm khi con người lại chỉ muốn làm ngược lại: “Live and let die.”
Sống và Cho Chúng Nó Chết
Live And Let Die là tên của một quyển trong loạt tiểu thuyết điệp viên James Bond của tác giả Ian Fleming người Anh, được quay thành phim chiếu ra mắt năm 1973. Đây là phim đầu tiên trong một loạt bảy phim mà nam diễn viên Roger Moore đóng vai điệp viên 007, thay thế cho Sean Connery trong các phim James Bond trước đó. Đây cũng là cuốn phim James Bond duy nhất từ trước cho đến nay mà điệp viên 007 phải đối đầu với băng đảng da đen Mỹ, trùm buôn bạch phiến có cơ sở ở New York, New Orleans và đảo San Monique.  Nhân vật nữ chính -một vai diễn không bao giờ thiếu bên cạnh chàng điệp viên James Bond đa tình- là Rosie Carver, cũng da đen.
Ca khúc chủ đề của phim này là bản "Live and Let Die" của Paul McCartney. Nội dung bài hát nói về một người trẻ tuổi hồn nhiên, ngây thơ nghĩ rằng, mình sống và cũng để người khác cùng sống. Nhưng, sau khi va chạm với đời, đương đầu với những cái lọc lừa gian xảo xấu xa trong xã hội, tiếp xúc với thế giới đầy bon chen, người trẻ đó đã có lối suy nghĩ khác. Tâm hồn trầy xướt, tình cảm bị bào mòn, người trẻ đó thốt lên “Live and Let Die”, nghĩa là người trẻ ấy sẽ sống và làm theo ý muốn riêng của mình, mặc kệ mọi người khác sống chết ra sao. Triết lý của điệp viên 007 là như thế.
"I am so tired of everyone taking advantage of me. I'm going to Live and Let Die from now on!" (Tôi chán bị thiên hạ lợi dụng lắm rồi. Từ nay tôi sống cho tôi, thiên hạ chết cũng mặc kệ họ.)
Lời bài hát đó có câu "Khi bạn còn trẻ và trái tim của bạn là một cuốn sách mở, bạn thường nói sống và để sống... nhưng nếu cái thế giới không ngừng thay đổi mà chúng ta đang sống này làm cho bạn chịu thua phát khóc thì… bạn hãy sống và hãy để mặc cho chúng chết. (When you were young and your heart was an open book, you used to say live and let live... but if this everchanging world in which we live in makes you give in and cry... Live and Let die.)
Bạn thấy đó, nhân chi sơ tánh bổn thiện, con người chúng ta sinh ra bản tính vốn hiền lành, nhưng bị đời đá lên đá xuống mãi mới đâm ra bất cần thiên hạ và buông ra câu “Sống và để chết”; ta sống và để thiên hạ chết. Câu đó nghe có vẻ tàn nhẫn quá bạn ơi. Và cuốn phim cũng vậy, bạo động quá; trẻ em và người lớn yếu tim không nên xem. Tôi là một trong số những người đó. Có khi xem phim chiếu đến màn gay cấn hồi hộp, quá sợ hãi, tôi phải nhắm mắt lại để bị bạn tôi chê là chết nhát.
Tôi thắc mắc, tại sao một người hiếu hòa như Paul McCarney trong ban nhạc The Beatles, mang tiếng là hippies, lại viết một bài nhạc với lời lẽ cay cú như vậy. Mò tìm thông tin trên Net, tôi mới biết tác giả viết bản nhạc đó theo đơn đặt hàng cho cuốn phim đó, thế thôi. Thực sự ngoài đời, chàng luôn là một người hiền lành, nổi tiếng, giàu có, nhưng không kênh kiệu, chịu khó học thiền, tu tâm dưỡng tánh, và tích cực làm từ thiện, sống và để cho người khác sống. Chính nhờ vậy mà năm 1997, ở tuổi 54, chàng được nữ hoàng Anh Elizabeth II ban tặng cho tước hiệu hiệp sĩ, từ nay trước tên chàng có thêm chữ “Sir” cho oai.
"Sống và để sống" là một biểu từ mang tính triết lý mà chúng ta thường nghe nói và có nghĩa là "Tôi sống, và tôi cũng để yên cho những người khác cùng sống như tôi." Biết nhận thức rằng người khác cũng như mình, cũng được phép sống cuộc sống theo cách họ muốn, dù nó trái lại với sự lựa chọn hay sự ưa thích của mình. Đó là thái độ xã hội sống và để cho người khác sống, dù bất đồng quan điểm, thái độ, sự chọn lựa, như đối với  vấn đề ngừa thai, đồng tính, hợp luật hóa việc hút cần sa để trị bệnh, v.v. Bạn sống theo cách của bạn, tôi sống theo cách của tôi, miễn là chúng ta không va chạm quyền lợi và cùng hài lòng là được rồi.
Khi sống và để cho người khác sống, chúng ta không cần phải chỉ trích, phê phán hay định tội người khác. Chúng ta không cần phải kiểm soát họ hoặc cố gắng lèo lái họ thích ứng theo lối suy nghĩ của chúng ta. Ta sống đời ta, họ sống đời họ. Chấp nhận người khác theo đúng thực tại hiển nhiên của họ, mặc dù họ có cách sống khác mình, miễn là họ không gây phương hại đến ai, không hành động phạm pháp như trộm cướp, lừa gạt, hành hung…, chúng ta để họ yên không cần thắc mắc và không can dự vào sở thích đời tư của họ.
Sống và để người khác sống
Sống và để người khác sống là một trong những chìa khóa mang lại sự an bình hài hòa trong cuộc sống của chúng ta. Khi chúng ta thực hành sự khoan dung, chúng ta được giải thoát để rảnh rang lo cho các vấn đề của chúng ta. Áp dụng thực hành điều tâm niệm này, may ra chúng ta chấm dứt được những xung đột với tha nhân và giúp cho cuộc sống của chúng ta tốt đẹp hơn.
Nhưng ý tưởng "sống và để yên cho người khác sống" đôi khi cũng khó thực hành. Trên lý thuyết, ý tưởng đó rất tuyệt vời, nhưng trên thực tế, khi bạn va chạm và phải đối mặt với những người gây bực mình, có khi bạn cũng bất bình và nổi giận. Làm thế nào để có thể giữ lòng thanh tịnh, an nhiên tự tại, tránh bị ảnh hưởng bởi những người đó. Thật khó. Nếu bạn nghĩ bạn không thể làm cho họ thay đổi thì tốt hơn bạn hãy để cho họ yên và tránh xa. Hãy tập tánh khoan dung, tận hưởng những niềm vui và cơ hội mà cuộc sống mang đến cho mình; đồng thời hãy để yên cho người khác cũng được như vậy. Sự suy nghĩ đơn giản này sẽ giúp chúng ta chú tâm vào việc sống thế nào tốt cho bản thân ta, mà khỏi phải chen vào đời tư của người khác.
Tạp chí The Oprah có đăng một bài viết của Martha Beck về cách làm thế nào cải thiện mối quan hệ với người khác bằng cách không quan tâm đến những gì họ làm. Mới nghe qua, điều này coi bộ khó thực hành. Làm sao có thể quan hệ tốt với người khác mà không cần quan tâm tới những gì họ làm? Kệ, cứ thử xem bà Beck này khuyên ta ra sao.
Theo Beck, bạn có thể vừa không thèm quan tâm mà cũng vừa yêu thương một người nào đó. Trong thực tế, Beck lập luận rằng không quan tâm là một  cách để yêu một ai đó. Không quan tâm, chúng ta ngưng tìm cách thay đổi những người chúng ta yêu thương. Chúng ta hoàn toàn chấp nhận họ là họ, và kết quả là, bằng lòng với bất cứ điều gì họ làm. Beck khuyên chúng ta làm như sau:
Bước 1: Hãy chọn một người thân yêu nào đó mà người này đôi lúc vẫn còn làm cho bạn tức giận, lo lắng, hay buồn phiền.
Bước 2: Hãy xác định những gì người này cần phải làm cho bạn được vui lòng, bằng cách dùng câu: "Phải chi hắn (đối tượng) ‘làm thế này thế này’, chừng đó mình sẽ hài lòng."
Bước 3: Hãy xóa phần đầu của câu, tức bỏ điều kiện, chỉ còn giữ lại: "Mình sẽ hài lòng." Bạn hãy nhận ra rằng, đây là sự thật chân thực nhất trong câu. Và hãy biết rằng, bạn có đủ khả năng để làm như vậy, bất chấp những gì đối tượng nói hoặc làm. Câu trên sẽ trở thành “Hắn (đối tượng) làm sao cũng được, mình vẫn hài lòng”.
Bước 4: Hãy thay đổi ưu tiên: thay vì lo tìm cách kiểm soát người khác, hãy nghĩ đến cách làm sao tạo ra hạnh phúc cho riêng bạn.
Thực hành bốn bước trên đây sẽ tạo ra một môi trường mà những người xung quanh bạn sẽ cảm thấy được yêu và được chấp nhận, bất kể họ làm gì. Và từ đó, họ cũng sẽ tạo ra một môi trường khiến cho bạn cảm thấy hạnh phúc và bình an.
Tách mình ra khỏi hành vi của người khác là một điều tốt trong lý thuyết, nhưng khó thực hành. Phải cần có sức mạnh tinh thần để nhận ra rằng bạn có thể vui vẻ hạnh phúc mà không cần tùy thuộc vào những gì người khác làm. Điều này có thể đạt được dù khó khăn, miễn là bạn để ý thêm các bước sau đây:
• Tìm kiếm cho riêng mình một niềm vui nào đó. Muốn giữ cho mối liên hệ với người thân được tốt đẹp lâu bền, bạn đừng bao giờ dựa vào một người duy nhất nào đó hoàn toàn 100%. Ngoài người đó ra, bạn cần phải có những sinh hoạt hoặc bạn bè hợp sở thích khác.
• Tiếp xúc và tạo sự hỗ trợ bên ngoài. Nếu bạn đang gặp khó khăn để hiểu và thông cảm với người mà bạn yêu thương, hoặc gặp khó khăn khi đối phó với hành động của mình, bạn cần có một số hỗ trợ bên ngoài cho môi trường gia đình của bạn. Hãy tìm một người bạn thân hoặc chuyên gia điều trị mà bạn có thể thổ lộ tâm tình thoải mái.
• Hãy nhớ rằng bạn không thể bắt buộc người khác làm theo ý bạn. Đây là một điều quan trọng cần nhớ nếu bạn muốn cải thiện mối quan hệ của bạn (hoặc chỉ cần sống một cuộc sống tích cực nói chung). Dù gì đi chăng nữa, bạn không thể kiểm soát người khác. Nhận ra điều này, bạn sẽ tự giải thoát khỏi nhiều nỗi đau đớn về tinh thần.
• Tập trung vào những ưu điểm tích cực về người thân yêu của bạn. Nếu bạn đang phấn đấu để đối phó với một hành vi cụ thể nào đó của người bạn yêu thương, một bài tập hiệu quả để chống lại cảm nghĩ tiêu cực là: bạn nên cố gắng tập trung vào những ưu điểm bạn thích về người đó. Rất có thể từ trước tới giờ, bạn đã sơ sót không nhận ra nhiều ưu điểm tích cực đó.
• Tập trung vào những điều tích cực về bản thân. Bạn hãy nhớ rằng chính bạn cũng có những ưu điểm tích cực. Đôi khi chúng ta đang đối phó với một hành vi khó chịu của người khác mà chúng ta quên tập trung vào những điều tích cực về bản thân mình -như sức mạnh của chúng ta hoặc khả năng phục hồi của chúng ta. Hãy tự nhắc nhở rằng bản thân mình cũng có những cái đáng hãnh diện chứ.
• Bạn nên nhớ rằng giá trị của bạn là do chính ở con người bạn chứ không phải do ai khác. Đối phó với mối bất hòa của một người thân, một thành viên trong gia đình đã khó, tách mình ra khỏi những người đó còn khó hơn. Đôi khi chúng ta xem đó là một phần xác định chúng ta là ai -nhưng không phải vậy. Những người bạn yêu (hoặc có liên quan đến) không phải là bạn.
• Thẳng thắn bày tỏ rõ ràng ý định của bạn với những người bạn yêu thương. Nếu thực sự bạn phiền về một chuyện gì đó của người thân, bỏ qua chuyện đó quả là khó, cũng khó như làm sao để có thể thay đổi người đó vậy. Tốt nhất bạn nên bày tỏ rằng bạn thương yêu người đó, bạn chỉ không hài lòng về hành động của người đó, nhưng bạn sẽ cố gắng làm mọi cách để chấp nhận nó.
Chấp nhận một hiện trạng thực thể, ngộ nghĩnh thay, cũng có nghĩa là ta phải buông bỏ cái đã làm cho ta phiền lòng. Chu Dung Cơ (Zhū Róngjì) gọi đó là hiểu đời. Sau khi mãn nhiệm chức vụ thủ tướng thứ 5 của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 2003, Chu Dung Cơ nói “Nếu bạn đã cố hết sức mà vẫn không thay đổi tình trạng không hài lòng thì mặc kệ nó! Đó cũng là một sự giải thoát. Chẳng việc gì cố mà được, quả ngắt vội không bao giờ ngọt.” Ông khuyên chúng ta nên quan tâm bản thân, sống thế nào cho vui thì sống, việc nào muốn thì làm, ai nói sao mặc kệ vì mình đâu phải sống vì ý thích hay không thích của người khác, nên sống thật với mình. Sống ở trên đời không thể nào vạn sự như ý, có khiếm khuyết là lẽ thường tình ở đời, nếu cứ chăm chăm cầu toàn thì sẽ bị cái cầu toàn làm cho khổ sở. Chẳng thà thản nhiên đối mặt với hiện thực, thế nào cũng xong.
Ông nói người hiểu đời rất quý trọng và biết thưởng thức những gì mình đã có, và không ngừng phát hiện thêm ý nghĩa của nó, làm cho cuộc sống vui hơn, giàu ý nghĩa hơn. Cần có tấm lòng rộng mở, yêu cuộc sống và thưởng thức cuộc sống, trông lên chẳng bằng ai, trông xuống chẳng ai bằng mình (tỷ thượng bất túc tỷ hạ hữu dư), biết đủ thì lúc nào cũng vui (tri túc thường lạc).
Qua quyển sách thuộc hàng bán chạy nhất có tựa đề “I thought it was just me” (tạm dịch Tôi tưởng chỉ có mình tôi), nữ tiến sĩ Brené Brown, một giáo sư khảo cứu tại University of Houston Graduate College of Social Work, cung cấp một nghiên cứu khai phóng về tầm quan trọng của tính chất bất toàn của chúng ta trong các mối quan hệ lẫn nhau và trong sự cảm nhận về bản thân. Brown cho rằng hành trình đi tìm kiếm sự hoàn hảo đã khiến cho con người trở nên mệt mỏi và khắc nghiệt. Chúng ta bị thôi thúc liên tục bởi những kỳ vọng của xã hội vốn cho rằng bất toàn là đồng nghĩa với thiếu kém. Vì vậy, chúng ta luôn che đậy sự phấn đấu của chúng ta để tránh bị xấu hổ, chỉ trích, phản biện và đổ lỗi bằng cách tìm kiếm sự an toàn trong cái vỏ bọc của sự giả vờ và hoàn thiện. Một khi thường xuyên bị chỉ trích, theo Brown, con người có khuynh hướng ăn miếng trả miếng. Chúng ta cần vượt qua thói quen chỉ trích người khác. Tất cả chúng ta đều chỉ trích và một số người chỉ trích thường xuyên. Chỉ trích đã trở thành một phần của khuôn mẫu suy nghĩ của chúng ta đến nỗi chúng ta hiếm khi nhận ra lý do tại sao chúng ta chỉ trích. Brown nói cần phải có ý chí vững mạnh mới khắc phục được tính xấu này.
Tính xấu hay chỉ trích người khác có nguyên nhân tiềm ẩn là tự đánh giá cao hơn người khác về khả năng, niềm tin và giá trị của chúng ta. Sự xấu hổ, sợ hãi và lo lắng là những yếu tố tạo ra tính hay chỉ trích. Khi xấu hổ về một vấn đề nào đó hoặc khi cảm thấy lo lắng, bị đe dọa hoặc sợ hãi, chúng ta dễ trở nên bất an và quay ra chỉ trích người khác.
Thiền thi về cách sống
SỐNG
Sống không giận, không hờn, không oán trách            
Sống mỉm cười trước thử thách, chông gai.
Sống vươn lên cho kịp ánh ban mai
Sống ôn hòa với mọi người chung sống.
Sống là động, nhưng lòng luôn bất động
Sống là thương, nhưng lòng không vấn vương.
Sống hiên ngang, danh lợi cứ xem thường.
Tâm bất biến giữa dòng đời vạn biến.
MỘT THIỀN SƯ
 
 
Bài thơ họa:
SỐNG
Sống nhân ái - không giận hờn than-trách
Sống âm thầm chịu đựng cảnh chông gai
Sống hân hoan khi nhìn buổi ban mai
Sống nhẫn nhục - khoan dung người chung sống.
Sống chuyễn dời - vạn pháp không bất động!
Sống yêu thương tình cảm tránh vấn vương
Sống hôm nay - cuộc đời mãi vô thường
Sống thanh tịnh khi kiếp người chuyển biến!
Minh Lương Trương Minh Sung    
 
SỐNG
Oán trách làm chi, đã muộn rồi
Chông gai, phải ráng chịu mà thôi
Ban mai thức dậy... nghe "ca" tiếp
Chung sống là... thua suốt cả đời!
 
Bất động, giả như chẳng nghe gì
Vấn vương ai đó... ráng dấu đi
Vô thường, đợi đó, đời thay đổi
Vạn biến... tìm chưa ra kế chi?!
VÔ THIỀN SƯ
 
Kết luận
Tình trạng chỉ trích cá nhân qua lại trên các diễn đàn không khỏi khiến cho nhiều người đọc cảm thấy chán ngán mệt mỏi. Thay vì chỉ trích (có khi nặng nề trở thành chửi bới), thiết nghĩ người chỉ trích nên đóng góp ý kiến xây dựng để tìm giải pháp thỏa đáng cho vấn đề. Vì không dằn nén được sự bồng bột nóng nảy, người chỉ trích dùng lời lẽ thô tục bất nhã, vô tình tự hạ thấp tư cách và phẩm giá của chính mình. Tôn trọng người khác cũng là cách bày tỏ lòng tự trọng và biểu lộ tư cách.
Ngược lại, người bị chỉ trích nếu có lòng tự trọng sẽ không quá nhạy cảm trước những lời phê bình chỉ trích và không nên xem đó như là một sự sỉ nhục. Nếu họ dễ dàng trở nên tức tối và sẵn sàng ném trả lại những lời nhục mạ, hóa ra họ tự hạ mình xuống cho ngang hàng với kẻ thù. Hãy tự thắng chính mình trước đã. Nếu chúng ta có lòng tự trọng, tự tin và biết yêu thương bản thân, chúng ta sẽ không quá quan tâm đến những điều người khác chỉ trích mình, nghĩa là chúng ta không thèm chấp (Chữ “chấp” Hán Việt có nghĩa là cầm, nắm, giữ chặt trong tay). Thay vì giận dữ nghĩ rằng mình bị lăng mạ, chúng ta nên bình tĩnh tâm niệm ý tưởng Sống và để cho người khác cùng sống: họ sống đời họ, ta sống đời ta. Hơn nữa, Kinh Kim Cang có câu “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm", dịch thoát có nghĩa là “Đừng để tâm trong sạch vướng kẹt nơi nào cả”. Áp dụng câu này, nếu ai có bị chỉ trích hoặc chửi mắng bởi kẻ xấu, xin hãy đừng để tâm trong sạch của mình vướng bận. Chẳng lợi lộc gì! Uổng công! Vô ích!
Phan Hạnh.

__._,_.___

Thứ Hai, 9 tháng 9, 2013

Tình Hồng Mong Manh_PTMH - Tôi Họa Thơ Người & Họa Cả Thơ Tôi...

Tình Hồng Mong Manh

Điệu luân vũ gió bay làn tóc
Áo lụa trắng trong quấn bước chân
Tóc gió đùa vui tình náo nức
Dịu dàng e ấp nắng bâng khuâng

Em trong sáng đóa hoa hồng nhỏ
Đỏ thắm đôi môi nét rạng ngời
Ánh mắt long lanh như hẹn hứa
Bên nhau mộng ước ngát hương đời...

Sân trường tháng hạ nắng chia xa
Xa vắng phượng buồn gió tả tơi
Mưa lạnh lùng hoen sầu tượng đá
Tháng ngày vụn vỡ mộng phai phôi

Đâu rồi chuyến xe bên đường trái,
Mờ mịt mưa giăng chắn ngõ vào
Trường vắng buồn hiu, người lạ phố
Đâu rồi - Phượng cũ - Dấu tình đau...

Phạm Thị Minh-Hưng
*

Khúc Mưa Tháng 9

DUONGSEN2

Đêm rắc mưa cho hương đầy tóc
Tháng 9 về quanh những gót chân
Phố xá chờ nhau đèn thao thức
Soi buồn chưa rõ mặt tình nhân.

Con đường có lần em qua đó
Hẹn hò cho đỏ dấu son môi
Tôi về không kịp như đã hứa
Giọt mưa xoá mất bóng em rồi!

Bàn tay lùa trong di tích đá
Nhặt chút hương xưa để nhớ đời
Hàng cây bàng mấy lần thay lá
  Mà nghe hối hả bước chân tôi.

Chỗ có bảng chỉ đường rẽ trái
Mưa bay đâu còn thấy lối vào
Tôi nhìn tôi lạ người lạ phố
Cỏ xanh mọc đã quá đỉnh sầu…

Hư Vô

 photo laacutevagraveng_zps27fb1c50.gif

Sầu Mưa Tháng 9

Gió đưa mưa xác xơ dòng tóc
Tháng 9 sầu quay quắt bước chân
Xóm nhỏ buồn bâng khuâng thao thức
Hay chỉ mình em  gọi cố nhân .

Một thuở nào anh qua nơi đó
Có em chờ mưa ấm làn môi
Giọt rơi rơi long lanh khóe mắt
Khóc người đi xa cách thật rồi !

Khúc sầu em chơ vơ phiến đá
Mỏi mòn trông chinh phụ một đời
Đã bao thu ngậm ngùi thay lá
Tháng 9 về hiu hắt quanh tôi .

Hay anh đã một lần rẽ trái
Cho buồng tim tan tác lối vào
Để tương tư chiều em qua phố
Cơn mưa còn da diết tình sầu …
Ngọc Quyên
**



Tìm Nơi Đâu - Biết Tìm Đâu

Heo may lạnh, nhạt phai hương tóc
Lá vàng rơi vướng víu bước chân
Ai chờ ai, ánh đèn thao thức
Phố thưa người đón bước tình nhân

Đường phượng đỏ, xưa qua lối đó
Những hẹn hò không nói lên môi
Ánh mắt lặng nhìn như thầm hứa
Có phải...Tình non lỡ vẽ vời...

Giọt mưa buồn, ướt loang ghế đá
Chỗ ngồi xưa, đã vắng bóng người
Thu đến, thu đi phai sắc lá,
Bâng khuâng, lạc lõng - chiều đơn côi

Hoàng hôn ảm đạm, hồn tê tái
Ngõ vắng cỏ rêu chẳng lối vào
Lạ người, lạ cảnh - Đâu con phố
Cỏ xanh, tường đổ, biết tìm đâu...

Phạm Thị Minh-Hưng

Chủ Nhật, 8 tháng 9, 2013

Tình Hồng Mong Manh


Chùm hình ảnh đẹp về hoa phượng sân trường

Tình Hồng Mong Manh

Điệu luân vũ gió bay làn tóc
Áo lụa trắng trong quấn bước chân
Tóc gió đùa vui tình náo nức
Dịu dàng e ấp nắng bâng khuâng

Em trong sáng đóa hoa hồng nhỏ
Đỏ thắm đôi môi nét rạng ngời
Ánh mắt long lanh như hẹn hứa
Bên nhau mộng ước ngát hương đời...

Sân trường tháng hạ nắng chia xa
Xa vắng phượng buồn gió tả tơi
Mưa lạnh lùng hoen sầu tượng đá
Tháng ngày vụn vỡ mộng phai phôi

Chiều nao lạc bước bên đường trái,
Mờ mịt mưa giăng chắn lối vào
Trường vắng buồn hiu, người lạ phố
Đâu rồi - Phượng cũ - Dấu tình đau...

Phạm Thị Minh-Hưng
*